Legalzone xin gửi đến bạn đọc các thông tin hữu ích về %%title%% .

Từ ngày 01/7/2021, Luật Cư trú số 68/2020/QH14 chính thức có hiệu lực thi hành, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công tác quản lý dân cư tại Việt Nam. Điểm đáng chú ý nhất của văn bản pháp luật này là việc thống nhất các quy định về điều kiện đăng ký thường trú trên phạm vi cả nước, xóa bỏ sự phân biệt giữa các tỉnh thành và các thành phố trực thuộc Trung ương.
Trước đây, theo Luật Cư trú năm 2006, điều kiện đăng ký thường trú có sự khác biệt nhất định giữa các tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương. Thậm chí, Luật Thủ đô 2012 từng áp dụng những điều kiện "đặc thù" đối với công dân cư trú tại Hà Nội. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Cư trú 2020 có hiệu lực, các quy định về điều kiện đăng ký thường trú đã được đồng nhất hóa.
Việc bãi bỏ các điều kiện đặc thù và áp dụng chung một khung pháp lý cho 63 tỉnh, thành phố nhằm mục tiêu bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân theo Hiến pháp năm 2013. Quy định này tạo ra sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền lợi cư trú, không phân biệt địa bàn cư trú giữa các vùng miền hay các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào quy định tại Điều 20 của Luật Cư trú số 68/2020/QH14, điều kiện để một cá nhân được đăng ký thường trú được quy định cụ thể theo từng trường hợp về loại hình chỗ ở và mối quan hệ gia đình như sau:
Điều kiện tiên quyết và đơn giản nhất là công dân có chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của chính mình. Khi đáp ứng được yếu tố này, cá nhân có quyền đăng ký thường trú tại địa điểm đó.
Nếu không có chỗ ở hợp pháp thuộc sở hữu riêng, công dân vẫn có thể được đăng quyết định đăng ký thường trú tại chỗ ở của người khác nếu được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở đó đồng ý trong các mối quan hệ thân nhân sau:
Đối với các trường hợp thuê, mượn hoặc ở nhờ, công dân cần đáp ứng đồng thời hai điều kiện:
Tại cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo: Công dân được đăng ký thường trú tại các cơ sở có công trình phụ trợ là nhà ở nếu là người hoạt động tôn giáo (được phong phẩm, bổ nhiệm...), người đại diện cơ sở tín ngưỡng, hoặc người được ban quản lý đồng ý để trực tiếp quản lý hoạt động tín ngưỡng. Ngoài ra, trẻ em, người khuyết tật nặng/đặc biệt nặng hoặc người không nơi nương tựa cũng được xem xét nếu có sự đồng ý của người đứng đầu cơ sở.
Tại cơ sở trợ giúp xã hội: Người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp được đăng ký thường trú tại đây khi có sự đồng ý của người đứng đầu cơ sở hoặc được đăng ký vào hộ gia đình nhận nuôi dưỡng nếu được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp chấp thuận.
Người làm nghề lưu động trên các phương tiện (nhà thuyền, xe...) có thể đăng ký thường trú tại chính phương tiện đó nếu:
Trong quá trình thực hiện thủ tục, công dân cần đặc biệt lưu ý các vấn đề sau để tránh bị từ chối hồ sơ:
Việc nắm vững các quy định này sẽ giúp công dân chủ động hơn trong việc thực hiện quyền lợi cư trú của mình. Đối với những trường hợp là người nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam, cần lưu ý thêm các các bước đăng ký tạm trú cho người nước ngoài để đảm bảo tuân thủ đúng quy định về quản lý cư trú tại địa phương.