Công ty tôi mới chuyển trụ sở về địa chỉ mới và được Ban công tác mặt trận của Phường đề nghị cố gắng bố trí việc làm cho cư dân sở tại, trong đó có một số người tuổi đã cao.
Công ty tôi mới chuyển trụ sở về địa chỉ mới và được Ban công tác mặt trận của Phường đề nghị cố gắng bố trí việc làm cho cư dân sở tại, trong đó có một số người tuổi đã cao.
Không biết, pháp luật có cho phép người đã về hưu, tuổi cao được tiếp tục làm việc chính thức và Công ty tôi, với tư cách doanh nghiệp được ký hợp đồng lao động với họ hay không? Nếu được thì với đối tượng người lao động này, Công ty tôi phải chú ý những gì?
Trả lời
Như chúng ta đã biết, người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Người lao động, theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, “là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”.
Về nguyên tắc, quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động được xác lập thông qua giao kết hợp đồng lao động, trên cơ cở tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Khoản 1 Điều 13 của Bộ luật này quy định: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”.
Như vậy, trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
Điều 148 của Bộ luật này quy định về người lao động cao tuổi như sau:
“1. Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật này.
2. Người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
3. Nhà nước khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi làm việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm quyền lao động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực”.
Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu, dựa trên nhu cầu của các bên và khả năng đáp ứng, người lao động có thể tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động. Cũng cần lưu ý quy định về việc sử dụng người lao động cao tuổi tại Điều 149 của Bộ luật này. Đó là:
“1. Khi sử dụng người lao động cao tuổi, hai bên có thể thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn.
2. Khi người lao động cao tuổi đang hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội mà làm việc theo hợp đồng lao động mới thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo chế độ hưu trí, người lao động cao tuổi được hưởng tiền lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, hợp đồng lao động.
3. Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động cao tuổi, trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn.
4. Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc”.
Sử dụng người lao động cao tuổi làm việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm quyền lao động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực được khuyến khích. Bên cạnh đó, pháp luật hiện nay quy định rõ người sử dụng lao động không được sử dụng họ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú