Em là một trong số những bị cách ly do làm cùng với chị đồng nghiệp được xác định nhiễm bệnh COVID-19. Giám đốc Công ty thông báo sau thời gian cách ly, nếu kết quả xét nghiệm âm tính, em được nghỉ...
Tuy nhiên, dịch bệnh chưa biết bao giờ mới chấm dứt, Công ty nơi em làm việc lại nằm ngay gần địa phương đang bị cách ly. Cho nên, em muốn xin nghỉ việc tại Công ty để về quê, mở cửa hàng.
Đề nghị các anh chị tư vấn giúp, với lý do dịch bệnh như hiện nay, bản thân cũng phải cách ly, nếu Công ty không đồng ý, em có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hay không? Trong trường hợp này, quyền lợi của em được hưởng từ Công ty là gì?
Trả lời
Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:
“a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;
d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;
đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;
g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục”.
Nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với Công ty nơi đang làm việc.
Ví dụ, nếu bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động, theo khoản 2 Điều 11 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau:
“a) Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn;
b) Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;
c) Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động”.
Tóm lại, về nguyên tắc, nếu gia đình, bản thân gặp khó khăn do dịch bệnh không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động như thông tin của bạn, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty.
Lưu ý, khi thực hiện quyền này, bạn phải báo trước cho Công ty với thời hạn được quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 nêu trên như sau:
“a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;
b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;
c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”.
Nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho cho Công ty trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp là lao động nữ mang thai có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Thời hạn lao động nữ mang thai phải báo trước tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định của pháp luật, bạn được nhận trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Luật này như sau:
“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, theo khoản 2 Điều 47 của Bộ luật này, “hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày”. Có nghĩa là, Công ty có trách nhiệm chi trả cho bạn tiền lương những ngày làm việc trước đó và các khoản tiền khác mà bạn chưa nhận, ví dụ: tiền những ngày nghỉ hàng năm mà bạn chưa nghỉ. Đồng thời, họ phải hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.
Ngọc Đức
Vũ Thị Thanh Tú