Tôi và chồng là anh T đăng ký kết hôn từ năm 2018 tại UBND xã nơi chồng tôi thường trú. Đến đầu năm 2021, khi tôi đang mang thai thì phát hiện chồng tôi có bồ nhí nên sau khi sinh con, tôi và anh...
Sau đó, tôi có nộp đơn ly hôn ra tòa nhưng chưa được giải quyết. Cho đến đầu năm 2022, chồng tôi và cô bồ nhí đã đến sống cùng nhau mặc dù chưa hoàn tất thủ tục ly hôn với tôi. Vừa qua, chồng tôi bị tai nạn giao thông chết (không có di chúc), gia đình bên chồng có nói sẽ bán nhà của chồng tôi và chia cho cô bồ nhí kia chứ không phải cho con tôi và tôi. Tôi muốn biết, theo quy định của pháp luật thì tôi và con tôi có được hưởng thừa kế của anh ấy không?
Trả lời:
- Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”.
- Điều 649 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
- Khoản 1 Điều 650 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
- Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành không có khái niệm ly thân cũng như hệ quả pháp lý của việc ly thân. Tại Khoản 14 Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Do đó, mặc dù vợ chồng bạn đã ly thân và đã nộp đơn ra toà án xin ly hôn nhưng chưa có bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án nên quan hệ hôn nhân của bạn vẫn tồn tại.
Như vậy, ở thời điểm hiện tại, bạn và chồng bạn vẫn là vợ chồng và được pháp luật ghi nhận. Việc chồng bạn qua đời mà không để lại di chúc là căn cứ cho việc sẽ chia di sản của chồng bạn theo pháp luật (Điều 650 Bộ luật dân sự 2015). Theo đó, khi chia di sản theo pháp luật, bạn, con chung của bạn và chồng cùng với bố, mẹ của chồng bạn sẽ nằm ở hàng thừa kế thứ nhất theo Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, nếu không có thỏa thuận nào khác, di sản thừa kế sẽ được chia đều cho những người nêu trên. Những người nhà của chồng bạn không có quyền tự định đoạt hoặc tự chia di sản thừa kế của chồng bạn. Ngoài ra, với bồ nhí của chồng bạn, mặc dù sống chung nhưng pháp luật không thừa nhận người này là vợ của chồng bạn. Do đó, cô ấy không có quyền được nhận bất cứ phần di sản nào khi chia thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp, nếu người nhà chồng cứ cố tình tự định đoạt di sản của chồng, bạn có thể làm đơn khởi kiện và nộp tại tòa án nhân dân nơi có căn nhà của chồng để được giải quyết chia di sản theo pháp luật.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh