Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được quy định như thế nào?
Ông ngoại tôi mất đã lâu. Bà ngoại tôi đã mất cách đây 2 năm, khi mất bà cũng không để lại bất cứ di chúc nào. Bà ngoại tôi có tất cả 06 người con (04 gái, 02 trai). Bà ngoại tôi có đứng tên 2...
nông nghiệp (đất trồng lúa) khoảng 15.000 m2; Quyền sử dụng đất ở (đất thổ cư) khoảng 800 m2. Hiện tại các người con đều thống nhất đồng ý chia đều 2 quyền sử dụng đất nêu trên cho 3 người con là người con gái thứ 4, người con trai thứ 6 và người con trai út. Như vậy có phân chia di sản của bà ngoại tôi được không? Những người không nhận thừa kế thì phải làm gì?
Trả lời:
- Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."
- Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật như sau:
“Phân chia di sản theo pháp luật
1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”.
- Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hạn chế phân chia di sản như sau:
“Hạn chế phân chia di sản
Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.
Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm”.
- Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:
"Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
- Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 quy định điều kiện người thừa kế được quyền từ chối nhận di sản, cụ thể:
“Từ chối nhận di sản
1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”.
Theo thông tin anh nêu thì các phần đất của bà ngoại anh đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bà ngoại anh đứng tên của bà trên giấy chứng nhận này), vậy thì việc phân chia di sản ở đây chỉ đơn giản là việc các bên ra phòng công chứng để làm và công chứng biên bản phân chia di sản thừa kế, những người không nhận di sản sẽ phải có văn bản từ chối nhận di sản gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác.
Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh