Cách tính tiền bảo hiểm thất nghiệp như thế nào? không ít người lao động vì không nắm rõ cách tính mà bị mất đi rất nhiều quyền lợi...
Cách tính tiền bảo hiểm thất nghiệp 2020 là vấn đề người lao động thường quan tâm khi nghỉ việc. Trong bối cảnh pháp luật tại thời điểm năm 2020, căn cứ chính là Luật Việc làm 2013 và Nghị định 28/2015/NĐ-CP hướng dẫn về bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Điều 50 Luật Việc làm 2013, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được tính bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thất nghiệp.
Công thức cơ bản:
Ví dụ: nếu mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc là 6.000.000 đồng, tiền trợ cấp thất nghiệp hằng tháng là 6.000.000 đồng x 60% = 3.600.000 đồng.
Luật Việc làm 2013 đặt ra mức trần để tránh việc trợ cấp vượt quá giới hạn luật định. Cụ thể:
Như vậy, cách tính trợ cấp thất nghiệp không chỉ dựa vào 60% tiền lương bình quân mà còn phải đối chiếu với mức trần tương ứng.
Điều 49 Luật Việc làm 2013 quy định người lao động chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện về chấm dứt hợp đồng, thời gian đóng, nộp hồ sơ và tình trạng chưa có việc làm. Các điều kiện đáng chú ý gồm:
Thời gian hưởng tiền bảo hiểm thất nghiệp phụ thuộc vào tổng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng được hưởng 3 tháng trợ cấp. Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp, tối đa không quá 12 tháng.
Ví dụ: một người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp 50 tháng. Trong 36 tháng đầu được hưởng 3 tháng trợ cấp; 12 tháng tiếp theo được hưởng thêm 1 tháng. Hai tháng lẻ còn lại được bảo lưu để tính cho lần hưởng sau nếu đáp ứng điều kiện.
Điều 16 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gồm đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; giấy tờ xác nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; sổ bảo hiểm xã hội. Sau thời điểm các bài viết đầu năm 2020, Nghị định 61/2020/NĐ-CP đã sửa đổi khoản 2 Điều 16 theo hướng bổ sung thêm một số giấy tờ có thể dùng để xác nhận việc chấm dứt hợp đồng.
Khi tính tiền bảo hiểm thất nghiệp, cần xác định đúng 6 tháng lương liền kề đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời điểm chấm dứt hợp đồng, loại chế độ tiền lương và mức trần áp dụng. Nếu doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội hoặc chưa chốt sổ bảo hiểm, người lao động nên xử lý hồ sơ bảo hiểm trước để tránh ảnh hưởng đến quyền lợi.