Làm 1 năm hưởng bảo hiểm thất nghiệp mấy tháng là câu hỏi thường gặp khi người lao động vừa chấm dứt hợp đồng và muốn biết mình có đủ điều kiện nhận trợ cấp hay không. Với bối cảnh bài viết đăng năm 2020, căn cứ chính là Luật Việc làm 2013 và Nghị định 28/2015/NĐ-CP về bảo hiểm thất nghiệp.
Theo khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm 2013, thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp: đóng đủ từ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp; sau đó cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng, nhưng tối đa không quá 12 tháng.
Điều cần lưu ý là pháp luật căn cứ vào thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, không chỉ căn cứ vào số năm đi làm thực tế. Theo Điều 45 Luật Việc làm 2013, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng là tổng các khoảng thời gian đã đóng, liên tục hoặc không liên tục, chưa được dùng để hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Người đọc có thể tham khảo thêm bài viết thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành để nắm rõ bước nộp hồ sơ sau khi nghỉ việc.
Theo khoản 1 Điều 50 Luật Việc làm 2013, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Mức hưởng tối đa được giới hạn theo lương cơ sở đối với người hưởng lương do Nhà nước quy định hoặc theo lương tối thiểu vùng đối với người lao động hưởng lương do doanh nghiệp quyết định.
Trường hợp tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp đều là 6.800.000 đồng/tháng, mức trợ cấp thất nghiệp dự kiến là:
60% x 6.800.000 đồng = 4.080.000 đồng/tháng.
Nếu được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, tổng số tiền theo mức tính trên là 12.240.000 đồng, nhưng khoản này không được nhận gộp một lần mà được chi trả theo từng tháng nếu người lao động tiếp tục đáp ứng nghĩa vụ thông báo tìm kiếm việc làm.
Không. Theo khoản 2 Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, tổ chức bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp. Từ tháng hưởng thứ hai trở đi, việc chi trả được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc tính từ ngày thứ 07 của tháng hưởng trợ cấp, nếu không có quyết định tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng.
Như vậy, bảo hiểm thất nghiệp được chi trả từng tháng. Người lao động không thể yêu cầu nhận một lần toàn bộ số tiền của 03 tháng trợ cấp thất nghiệp.
Theo Luật Việc làm 2013, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ gồm trợ cấp thất nghiệp mà còn có các chế độ hỗ trợ khác, gồm:
Trong trường hợp doanh nghiệp còn nợ hoặc chậm đóng bảo hiểm, người lao động có thể đọc thêm bài công ty nợ bảo hiểm xã hội để hiểu ảnh hưởng đến quyền lợi bảo hiểm.