Đóng bảo hiểm 7 tháng có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không theo quy định của Luật việc làm 2013? Cách tính hưởng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
đóng bảo hiểm 7 tháng có được hưởng thất nghiệp là thắc mắc thường gặp khi người lao động nghỉ việc nhưng thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn ngắn. Với bối cảnh bài viết đăng năm 2020, căn cứ chính là Luật Việc làm 2013 và Nghị định 28/2015/NĐ-CP của Chính phủ (ban hành ngày 12/3/2015, có hiệu lực từ 01/5/2015). Kết luận ngắn gọn: nếu tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng xét điều kiện mới chỉ 7 tháng và chưa đủ 12 tháng thì thông thường chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Theo Điều 49 Luật Việc làm 2013, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đồng thời các điều kiện: đã chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc hợp lệ; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian luật định trước khi chấm dứt hợp đồng; đã nộp hồ sơ tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng; và chưa tìm được việc làm sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ, trừ các trường hợp luật loại trừ.
Vì vậy, trường hợp đóng bảo hiểm thất nghiệp 7 tháng nhưng tổng thời gian được ghi nhận trong khoảng 24 tháng hoặc 36 tháng trước khi nghỉ việc vẫn chưa đủ 12 tháng thì chưa đáp ứng điều kiện về thời gian đóng. Người lao động không bị mất thời gian đã đóng; phần thời gian này được cộng dồn để xét cho lần hưởng sau nếu tiếp tục tham gia và chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Điều kiện “đủ 12 tháng” được hiểu theo loại hợp đồng tại thời điểm chấm dứt. Với hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn, người lao động phải có từ đủ 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng. Với hợp đồng theo mùa vụ hoặc công việc nhất định từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, mốc xét là từ đủ 12 tháng đóng trong 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.
Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết việc tham gia, đóng, nộp hồ sơ và giải quyết trợ cấp thất nghiệp. Tại Điều 12, Nghị định này nêu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính khi người sử dụng lao động và người lao động đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Đến năm 2020, Nghị định 61/2020/NĐ-CP sửa đổi một số nội dung của Nghị định 28/2015/NĐ-CP, nhất là về giấy tờ trong hồ sơ, nhưng không làm thay đổi nguyên tắc phải đủ thời gian đóng tối thiểu theo Luật Việc làm 2013.
Theo khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm 2013, thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp: đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp; sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng, tối đa không quá 12 tháng.
Mức hưởng hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp, nhưng không vượt quá mức trần theo luật tại thời điểm chấm dứt hợp đồng. Do đó, với người mới đóng 7 tháng, vấn đề không nằm ở cách tính tiền trợ cấp mà là chưa đạt ngưỡng tối thiểu để phát sinh quyền hưởng.
Điều 16 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gồm: đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu; giấy tờ xác nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như hợp đồng đã hết hạn, quyết định thôi việc, quyết định sa thải, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng; và sổ bảo hiểm xã hội.
Người lao động cần nộp hồ sơ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Trung tâm dịch vụ việc làm xem xét, trình quyết định hưởng trong thời hạn luật định; nếu không đủ điều kiện, cơ quan giải quyết phải thông báo lý do không được hưởng.
Với câu hỏi đóng bảo hiểm 7 tháng có được hưởng thất nghiệp, câu trả lời trong bối cảnh pháp luật năm 2020 là: chưa đủ 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp thì thường chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Người lao động cần đối chiếu Điều 49, Điều 50 Luật Việc làm 2013 và các hướng dẫn tại Nghị định 28/2015/NĐ-CP để xác định chính xác điều kiện của mình.