bảo hiểm thất nghiệp được lấy mấy lần? Theo quy định tại Điều 45, Luật Việc làm 2013 quy định chi tiết về thời gian đóng bảo hiểm...
Bảo hiểm thất nghiệp được lấy mấy lần là câu hỏi thường gặp khi người lao động đã từng nhận trợ cấp thất nghiệp và tiếp tục đi làm, đóng bảo hiểm ở lần sau. Bài viết này tóm tắt quy định theo bối cảnh pháp luật tại thời điểm bài đăng năm 2020, chủ yếu căn cứ Luật Việc làm số 38/2013/QH13.
Luật Việc làm 2013 không đặt ra giới hạn “chỉ được hưởng một lần” đối với trợ cấp thất nghiệp. Người lao động có thể hưởng nhiều lần nếu ở mỗi lần nghỉ việc đều đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Điểm cần lưu ý nằm ở Điều 45 Luật Việc làm 2013: thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng là tổng thời gian đã đóng liên tục hoặc không liên tục nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. Sau khi người lao động chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng đã dùng để hưởng trước đó không được tính cho lần hưởng sau, trừ một số trường hợp được bảo lưu theo Điều 53.
Nói ngắn gọn: người lao động không bị giới hạn số lần hưởng, nhưng mỗi lần hưởng phải có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ điều kiện và phần thời gian đã hưởng sẽ không được tính lại.
Theo Điều 49 Luật Việc làm 2013, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đồng thời các điều kiện chính sau:
Nếu cần tìm hiểu sâu hơn về trình tự nộp hồ sơ, người đọc có thể tham khảo bài thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành.
Điều 50 Luật Việc làm 2013 quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Tuy nhiên, mức hưởng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người hưởng lương theo chế độ Nhà nước, hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng đối với người hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định.
Về thời gian hưởng, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp; sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng, nhưng tổng thời gian hưởng tối đa không quá 12 tháng.
Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16 kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo khoản 3 Điều 50 Luật Việc làm 2013.
Giả sử người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp 50 tháng và tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp là 4.000.000 đồng/tháng. Theo quy định nêu trên, người lao động được hưởng 04 tháng trợ cấp thất nghiệp: 36 tháng đầu tương ứng 03 tháng trợ cấp, 12 tháng tiếp theo tương ứng 01 tháng trợ cấp; 02 tháng lẻ còn lại được bảo lưu nếu chưa dùng để hưởng.
Mức hưởng hằng tháng trong ví dụ này là 4.000.000 đồng x 60% = 2.400.000 đồng/tháng, nhưng vẫn phải đối chiếu trần tối đa theo lương cơ sở hoặc lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.
Theo Nghị định 28/2015/NĐ-CP đang được áp dụng tại thời điểm bài đăng, hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp thường gồm:
Từ ngày 15/7/2020, Nghị định 61/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định 28/2015/NĐ-CP, trong đó mở rộng thêm một số giấy tờ có thể dùng để xác nhận việc chấm dứt hợp đồng. Vì bài này được đăng trước thời điểm hiệu lực của Nghị định 61/2020/NĐ-CP, người đọc cần đối chiếu thời điểm nộp hồ sơ thực tế để áp dụng đúng văn bản.