Anh B làm việc trong 01 doanh nghiệp tư nhân và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Do lương thấp và không muốn phải trích một khoản tiền lương để đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nên...
Trả lời:
Khoản 1 Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định các hành vi bị nghiêm cấm như sau: “1. Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.”. Như vậy, hành vi thỏa thuận với chủ doanh nghiệp về việc không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với mình của anh B là hành vi vi phạm pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:
“1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định.”
Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt thì:
“1. Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6; khoản 3, 4, 6 Điều 12; khoản 2 Điều 24; khoản 1 Điều 25; khoản 1, 5, 6, 7 Điều 26; khoản 5 Điều 40; các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 41; khoản 2, 4 Điều 42; khoản 1, 2 Điều 43; các khoản 1, 2, 3 Điều 44; các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 45 của Nghị định này. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.”
Như vậy, với hành vi thỏa thuận với chủ doanh nghiệp về việc không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với mình, anh B sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
Nguyễn Tuân
Nguyễn Sỹ Tuấn