Theo hợp đồng lao động em vừa ký lại với Công ty, mức lương tháng của em được tăng lên 15 triệu đồng. Xin hỏi các anh chị, em có thể đề nghị Công ty lấy mức lương của hợp đồng lao động trước đó (10...
Trả lời
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, theo khoản 2 Điều 5 của Luật này, “được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động”.
Người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc, Cụ thể:
Điều 19 của Luật này quy định trách nhiệm của người lao động như sau:
“1. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
2. Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội.
3. Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội”.
Tương ứng, người lao động có các quyền như được tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này; được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội; nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời; hưởng bảo hiểm y tế; được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động, được thanh toán phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm xã hội…
Trách nhiệm của người sử dụng lao động được quy định tại Điều 21 của Luật này như sau:
“1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.
2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.
3. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.
4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.
5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.
6. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan bảo hiểm xã hội.
7. Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.
8. Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 23 của Luật này”.
Người sử dụng lao động có quyền từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, quyền và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động đã được quy định cụ thể như trên, trong đó có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động. Điều đó đồng nghĩa, thỏa thuận giữa bạn và Công ty về việc khai báo gian dối tiền lương tháng làm cơ sở để đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là vi phạm quy định của pháp luật.
Theo Điều 17 của Luật này, các hành vi nghiêm cấm bao gồm:
“1. Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
2. Chậm đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
3. Chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
4. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
5. Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp không đúng pháp luật.
6. Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người sử dụng lao động.
7. Truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
8. Báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin, số liệu không chính xác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp”.
Vi phạm điều cấm của pháp luật về bảo hiểm xã hội, cụ thể là hành vi “đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định mà không phải là trốn đóng” được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 38 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 của Chính phủ, người sử dụng lao động bị phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng. Bên cạnh đó, họ còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 7 của Điều này. Đó là:
“a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp phải đóng đối với các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 4, 5,6 Điều này;
b) Buộc nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng, không đóng, trốn đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội đối với những hành vi vi phạm quy định tại các khoản 4, 5, 6 Điều này từ 30 ngày trở lên”.
Đối với người lao động, khoản 1 của Điều này quy định: “Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định”. Theo đó, bạn sẽ bị phạt tiền từ 500 nghìn đến 01 triệu đồng nếu thỏa thuận với Công ty về việc tham gia bảo hiểm xã hội với mức đóng thấp hơn quy định.
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội. Cho nên, đóng đúng mức không chỉ là trách nhiệm, mà còn là quyền lợi của người lao động tương ứng khi hưởng các chế độ của bảo hiểm xã hội.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú