Ông A và bà B kết hôn đã nhiều năm nhưng không có con. Năm 2014 bà B biết chồng mình đi lại quan hệ với cô C (sống độc thân) và đến tháng 9 năm 2016 cô C sinh con với chồng mình nhưng không có ý...
Ông A và bà B kết hôn đã nhiều năm nhưng không có con. Năm 2014 bà B biết chồng mình đi lại quan hệ với cô C (sống độc thân) và đến tháng 9 năm 2016 cô C sinh con với chồng mình nhưng không có ý kiến gì. Khi con đầy tháng, cả ông A cô C cùng đến UBND xã, nơi cô C có hộ khẩu thường trú để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con và làm thủ tục cha nhận con với mong muốn trong Giấy khai sinh của cháu có tên của ông A. Biết chuyện này, bà B đã đến UBND xã khiếu nại và yêu cầu không được ghi ông A vào giấy khai sinh của cháu bé, vì ông A không phải là chồng của cô C, mà là chồng hợp pháp của bà. Theo bà A, nếu UBND xã ghi tên ông A vào phần khai về người cha, bên cạnh tên cô C được ghi ở phần khai về người mẹ thì như vậy là UBND xã công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông A và cô C. UBND xã cho rằng việc nhận con có phát sinh tranh chấp nên dừng việc giải quyết đăng ký cha nhận con và hướng dẫn các bên liên quan tới Toà án huyện để giải quyết theo thẩm quyền. Xin hỏi UBND xã giải quyết như vậy có đúng không?
Trả lời:
Trước hết, cần khẳng định rằng cháu bé do chị C sinh ra là con ngoài giá thú, chưa xác định được người cha. Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, nếu có yêu cầu thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha cho cháu bé, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cháu bé.
Theo quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong việc xác định quan hệ cha, mẹ, con, Toà án chỉ thụ lý giải quyết khi việc nhận cha, mẹ, con đó có tranh chấp giữa các bên trong quan hệ này. Còn trong trường hợp việc cha, mẹ nhận con hoặc con nhận cha, mẹ có sự tự nguyện giữa các bên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan đăng ký hộ tịch thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con (được quy định tại Điều 24, Điều 25 Luật Hộ tịch).
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, có thể thấy việc UBND xã cho rằng việc ông A nhận con có tranh chấp, do đó chuyển vụ việc cho Toà án huyện giải quyết là không đúng, vì những lý do sau:
Thứ nhất, các bên trong quan hệ cha nhận con trong vụ việc này là chị C, ông A và cháu bé. Trong đó chị C - với tư cách người mẹ, là người đại diện cho con để thực hiện việc xác định cha cho con. Chỉ có ý kiến của chị C và ông A mới có giá trị pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết việc cha nhận con. Còn bà B - người vợ hợp pháp của ông A không có tư cách là một bên trong quan hệ cha nhận con này.
Thứ hai, cả chị C và ông A đều bày tỏ ý chí tự nguyện và thống nhất công nhận ông A là cha của cháu bé. Giữa các bên trong quan hệ cha nhận con này không phát sinh tranh chấp. Bà B không phải là chủ thể có tư cách pháp lý tham gia vào quan hệ cha nhận con, do đó, khiếu nại của bà B không phải là căn cứ làm phát sinh tranh chấp trong quan hệ cha nhận con.
Như vậy, căn cứ quy định tại các Điều 24, Điều 25 Luật Hộ tịch và Điều 11, Điều 12 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch thì việc ông A nhận con thoả mãn đầy đủ điều kiện để có thể yêu cầu UBND xã thụ lý giải quyết việc đăng ký cha nhận con theo thủ tục đăng ký hộ tịch. UBND xã cần tiếp tục thụ lý việc giải quyết đăng ký cha nhận con, không chuyển vụ việc cho Toà án huyện vì việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này không thuộc thẩm quyền của cơ quan xét xử.
Đối với yêu cầu của bà B, UBND xã cần giải thích cho bà hiểu rằng đây là yêu cầu không hợp pháp, xâm phạm đến quyền nhân thân của người khác, cụ thể là: Trên Giấy khai sinh của một cá nhân thể hiện “phần khai về người cha” và “phần khai về người mẹ” (nhằm mục đích xác định quan hệ cha với con và mẹ với con), chứ không thể hiện nội dung “phần khai về người vợ” và “phần khai về người chồng”. Do đó, dù chị C và ông A không có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì vẫn có thể cùng được khai tên trên Giấy khai sinh của con mình, vì ông A có tư cách là cha của cháu bé (sau khi đã được đăng ký việc cha nhận con). Việc ghi tên ông A và chị C như vậy không có ý nghĩa công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai người này. Quan hệ cha, con giữa ông A và cháu bé được pháp luật bảo hộ, thể hiện ngay từ việc ghi các thông tin về ông A trên Giấy khai sinh của cháu bé. Việc bà B đề nghị UBND xã không được ghi tên ông A vào Giấy khai sinh của cháu bé là ngăn cản việc thực hiện quyền nhân thân của cá nhân được quy định tại Điều 25 và Điều 43 Bộ luật dân sự năm 2005.
Một vấn đề mà UBND xã cần xem xét, xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình trong sự việc trên, cụ thể như sau:
Ông A là người đang có vợ nhưng lại quan hệ và có con với chị C, hành vi này đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. UBND xã cần xem xét xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này của ông A theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP).
Đối với chị C, UBND xã cần xác minh làm rõ: nếu chị C biết rõ ông A đã có vợ nhưng vẫn duy trì việc chung sống như vợ chồng với ông A thì cũng bị xử phạt về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng tương tự như với ông A. Còn nếu xác minh cho thấy chị C bị ông A lừa dối, che giấu tình trạng hôn nhân khiến chị không biết được là ông A đã có vợ thì không áp dụng việc xử phạt với chị C.
Admin PBGDPL