Ông nội tôi nhiều năm nay không liên hệ gì với gia đình, mọi người trong nhà tôi đều chỉ nghe loáng thoáng là ông ở với một người đàn bà ở Tây Nguyên khác và đã chết.
Vậy với tài sản của ông trước đây để lại thì có đủ điều kiện chia thừa kế hay không? Là cháu nội, liệu nhận tài sản này thì tôi có phải trả khoản nợ mà ông nội tôi vay của người khác hay không?
Trả lời
Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”.
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thời điểm, địa điểm mở thừa kế được quy định tại Điều 611 của Bộ luật này như sau:
“1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.
2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản”.
Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Theo khoản 1 Điều 71 của Bộ luật này, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
“a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.
Như vậy, thời điểm mở thừa kế đối với người bị tuyên bố là đã chết là ngày Tòa án xác định người đó đã chết. Tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật hoặc theo di chúc.
Lưu ý, thừa kế theo pháp luật, theo Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 651 của Bộ luật này theo thứ tự sau đây:
“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.
Bị tuyên bố đã chết, di sản của ông nội bạn chia theo pháp luật người thừa kế theo hàng và những người cùng hàng được hưởng như nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận.
Theo Điều 624 Bộ luật này, “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Dù thừa kế theo quy định của pháp luật hoặc theo di chúc, người được hưởng di sản có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy địnhtại Điều 615 của Bộ luật này. Đó là:
“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân”.
Căn cứ các quy định nêu trên, nếu bạn được hưởng di sản thừa kế của ông nội khi ông bị Tòa án tuyên bố đã chết, về nguyên tắc bạn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản (trả nợ) trong phạm vi di sản do ông nội bạn để lại mà bạn được hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú