Tôi và vợ cũ ly hôn, cô ấy nuôi con chung của chúng tôi. Sang tháng, hai mẹ con sẽ chuyển vào Nha Trang sinh sống.
Sau khi đi bước nữa, tôi có đầu tư vài căn hộ trong đó, giấy tờ đều chỉ ghi tên tôi. Liệu tôi có thể âm thầm cho vợ cũ một căn mà không cần đồng ý của vợ mới hay không?
Trả lời
Hợp đồng tặng cho tài sản, theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”.
Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Căn hộ là bất động sản, việc tặng cho phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực và Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Trong những nguyên tắc là bạn chỉ có thể tặng cho người khác tài sản thuộc sở hữu của mình. Bởi lẽ, Điều 460 của Bộ luật này quy định: “Trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản”.
Chính vì vậy, bạn cần chắc chắn về việc mình có quyền sở hữu riêng đối với căn hộ dự định tặng cho vợ cũ. Trường hợp đó là tài sản chung của bạn và vợ mới, về nguyên tắc hợp đồng cho tặng vợ cũ sẽ không có giá trị pháp lý.
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chúng của vợ chồng như sau:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Căn hộ bạn đầu tư phát sinh trong thời kỳ hôn nhân với vợ mới, về nguyên tắc là tài sản chung của hai vợ chồng bạn, trừ trường hợp bạn có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng của mình.
Tài sản riêng của vợ, chồng được quy định tại Điều 43 của Luật này như sau:
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.
Tóm lại, nếu căn hộ là tài sản chung của bạn và vợ mới, bạn không có quyền cho tặng vợ cũ nếu như không có sự đồng ý của vợ mới.
Trường hợp đó là tài sản riêng, pháp luật thừa nhận quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của bạn. Tuy nhiên, bạn nên căn nhắc việc thông báo cho vợ mới về dự định hỗ trợ cho vợ cũ và con ruột của bạn (nếu có thể). Qua đó, vừa thoải mái trong long, vừa tránh được những nghi kỵ, trách móc, tự ái của cô ấy.
Ngọc Đức
Vũ Thị Thanh Tú