Tôi là viên chức nhà nước hiện đang công tác tại một đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn. Vợ tôi dự sinh con vào tháng 9/2019 và đây là đứa con đầu lòng của hai chúng tôi nên tôi muốn tìm hiểu...
Tôi là viên chức nhà nước hiện đang công tác tại một đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn. Vợ tôi dự sinh con vào tháng 9/2019 và đây là đứa con đầu lòng của hai chúng tôi nên tôi muốn tìm hiểu quy định của pháp luật về chế độ thai sản của người chồng khi vợ sinh con? Ngoài ra, tôi nghe mọi người nói về việc tăng mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2019 nên tôi muốn hỏi việc tăng lương như vậy có liên quan đến chế độ thai sản của tôi không?
Trả lời:
Đối với câu hỏi của bạn, tôi xin trả lời như sau, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, cụ thể:
“Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
c) Cán bộ, công chức, viên chức;”
Tại điểm e Khoản 1 Điều 31 của Luật này cũng quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản áp dụng với nam giới như sau:
“1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.”
Như vậy, do bạn là viên chức nhà nước hiện đang công tác tại một đơn vị sự nghiệp công lập nên bạn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bạn hoàn toàn đủ điều kiện để được hưởng chế độ thai sản khi vợ sinh con.
Do đó, tại Khoản 2 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:
“Điều 34. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con
2. Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:
a) 05 ngày làm việc;
b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;
c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con”.
Bạn cần lưu ý là số ngày nghỉ của lao động nam khi vợ sinh con được tính theo ngày làm việc, tức là không bao gồm ngày nghỉ hàng tuần, lễ, tết.
Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này, mức hưởng chế độ thai sản của bạn sẽ được tính như sau:
“Điều 39. Mức hưởng chế độ thai sản
1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này thì mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau:
a) Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật này là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội;
b) Mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 32 và khoản 2 Điều 34 của Luật này được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày;
c) Mức hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 33 và Điều 37 của Luật này thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.”
Tại Khoản 1, Khoản 3, Khoản 4 Điều 12 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, quy định hướng dẫn về mức hưởng chế độ thai sản như sau:
“Điều 12. Mức hưởng chế độ thai sản
1. Mức hưởng chế độ thai sản được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội và được hướng dẫn cụ thể như sau:
a) Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề gần nhất trước khi nghỉ việc. Nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì được cộng dồn.
...
b) Đối với trường hợp người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật bảo hiểm xã hội ngay trong tháng đầu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội thì mức hưởng chế độ thai sản được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó.
4. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 2 Điều này, được ghi theo mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản người lao động được nâng lương thì được ghi theo mức tiền lương mới của người lao động từ thời điểm được nâng lương.
Người lao động đang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.”
Ngoài ra, nếu chỉ có bạn tham gia bảo hiểm xã hội, khi vợ sinh con, bạn còn có thể được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con, cụ thể tại Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; điểm a Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định:
“Điều 38. Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi
...
Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con.”
“Điều 9. Điều kiện hưởng chế độ thai sản
2. Điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con được hướng dẫn cụ thể như sau:
a) Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con;”
Bên cạnh đó, như bạn đã đề cập thì từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở đã tăng từ 1.390.000 đồng/tháng lên 1.490.000 đồng/tháng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Như vậy, do vợ bạn dự sinh vào tháng 9/2019 nên việc vận dụng mức điều chỉnh tăng sẽ không chỉ áp dụng với trường hợp bạn nhận được trợ cấp một lần mà còn liên quan đến cả mức hưởng chế độ thai sản của người lao động bởi “Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề gần nhất trước khi nghỉ việc”.
Hùng Dũng
Admin PBGDPL