Tôi đang tham gia giao thông bằng xe máy thì xảy ra va quệt nhẹ với một thanh niên đi cùng chiều (lỗi hoàn toàn thuộc về thanh niên này). Thế nhưng thanh niên này không xin lỗi tôi còn chửi tôi và...
Tôi đang tham gia giao thông bằng xe máy thì xảy ra va quệt nhẹ với một thanh niên đi cùng chiều (lỗi hoàn toàn thuộc về thanh niên này). Thế nhưng thanh niên này không xin lỗi tôi còn chửi tôi và rút dao trong cốp xe máy xông vào đâm tôi nhưng tôi né được và vớ được cây gậy cạnh đó vụt 1 phát vào vai và 1 phát vào đầu làm thanh niên này ngất xỉu phải đưa vào viện cấp cứu. Xin hỏi hành vi chống trả của tôi có được xem là phòng vệ chính đáng không? Tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Trả lời:
Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về Phòng vệ chính đáng như sau:
"1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự."
Căn cứ quy định trên thì hành vi được xem là phòng vệ chính đáng phải đảm bảo các yếu tố sau:
- Nạn nhân là người có hành vi xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân người phòng vệ hoặc người khác, hành vi có tính nguy hiểm đáng kể;
- Hành vi chống trả cần thiết. Tính cần thiết thể hiện ở việc không thể không chống trả. Thiệt hại gây ra do hành vi chống trả có thể bằng hoặc lớn hơn thiệt hại do người khác có hành vi xâm phạm gây ra.
Như vậy, trong trường hợp của bạn, chưa thể khẳng định được hành vi của bạn có phải là phòng vệ chính đáng hay là vượt quá phòng vệ chính đáng. Để xác định việc này còn phụ thuộc vào kết quả điều tra, khám nghiệm hiện trường... của cơ quan có thẩm quyền. Ngoài ra, do bạn không nói rõ tỷ lệ thương tật là bao nhiêu nên trong trường hợp này có thể xảy ra 3 khả năng:
+ Trường hợp thứ nhất, nếu hành vi của bạn là phòng vệ chính đáng thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
+ Trường hợp thứ hai, nếu hành vi của bạn là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tỷ lệ thương tật của người kia là 31 % trở lên thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác do vượt quá phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 106 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau:
"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
2. Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm."
+ Trường hợp thứ ba, nếu hành vi của bạn bạn gây tỷ lệ thương tật cho người thanh niên kia từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và đây không phải là phòng vệ chính đáng thì bạn của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thấy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."
Bạn có thể tham khảo các quy định nêu trên và quá trình điều tra xác minh của cơ quan công an để xác định rõ trách nhiệm pháp lý của mình.
Admin Admin Admin