Trong các quan hệ dân sự và giao dịch hành chính, vi bằng, văn bản công chứng và văn bản chứng thực đều được pháp luật thừa nhận là nguồn chứng cứ quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều cá nhân và tổ chức vẫn chưa phân biệt rõ ràng giữa ba loại hình này, dẫn đến việc sử dụng sai lệch hoặc không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận về mặt giá phạm vi pháp lý. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các trường hợp cụ thể mà công chứng, chứng thực hoặc lập vi bằng không được thừa nhận giá trị pháp lý.
Các trường hợp công chứng, chứng thực không được thừa nhận giá trị pháp lý
Mặc dù việc công chứng và chứng thực nhằm mục đích xác nhận tính xác thực của văn bản, nhưng nếu vi phạm các điều kiện về thẩm quyền, nội dung hoặc đối tượng, các văn bản này sẽ mất đi giá trị pháp lý. Cụ thể:
Về hoạt động công chứng
Các trường hợp sau đây việc công chứng không được thừa nhận:
- Công chứng bản dịch (chính) được cấp sai thẩm quyền, không hợp lệ hoặc có dấu hiệu giả mạo.
- Công chứng các giấy tờ, văn bản có nội dung bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm bớt hoặc hư hỏng, cũ nát đến mức không thể xác định rõ nội dung gốc.
- Công chứng các tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước hoặc bị cấm phổ biến theo quy định của pháp luật.
- Công chứng các hợp đồng, giao dịch có nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; hoặc nhằm mục đích xúi giục, tạo điều kiện cho các bên thực hiện giao dịch giả tạo, gian dối.
- Công chứng, chứng thực các văn bản liên quan đến tài sản, lợi ích của người thực hiện công chứng hoặc người thân thích (bao gồm: vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột...).
Về hoạt động chứng thực
Căn cứ theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, các trường hợp chứng thực không có giá trị pháp lý bao gồm:
- Chứng thực chữ ký: Không thực hiện đối với giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch (trừ một số trường hợp đặc biệt như ủy quyền không thù lao và không liên quan đến chuyển quyền sở hữu tài sản). Đồng thời, không chứng thực khi người yêu cầu không nhận thức và làm chủ được hành vi, hoặc sử dụng giấy tờ tùy thân giả mạo, hết hạn.
- Chứng thực bản sao từ bản chính: Không thực hiện nếu bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm bớt nội dung không hợp lệ; bản chính bị hư hỏng, cũ nát không xác định được nội dung; hoặc bản chính có đóng dấu mật/ghi rõ không được sao chụp.
- Nội dung vi phạm: Tất cả các hình thức chứng thực có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội, xuyên tạc lịch sử hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức đều không có giá trị pháp lý.
Các trường hợp lập vi bằng không được thừa nhận giá trị pháp lý
Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật. Tuy nhiên, việc lập vi bằng sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và không được thừa nhận nếu rơi vào các trường hợp sau:
Vi phạm quy định về nghề nghiệp của Thừa phát lại
Thừa phát lại không được lập vi bằng trong các tình huống:
- Tiết lộ thông tin công việc hoặc sử dụng thông tin hoạt động thừa phát lại để xâm hại quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.
- Đòi hỏi lợi ích vật chất ngoài chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ.
- Tư vấn dẫn đến hành vi trái pháp luật; hoặc có hành vi ép buộc, cấu kết với người yêu cầu để tạo lập hồ sơ giả tạo, gian dối.
- Thực hiện các công việc kiêm nhiệm trái quy định (như làm luật sư, công chứng viên, đấu giá tài sản...).
- Lập vi bằng cho các sự kiện, hành vi liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân hoặc người thân thích của Thừa phát lại theo quy định.
Vi phạm về an ninh, quốc phòng và bí mật đời tư
- Lập vi bằng xâm phạm mục tiêu an ninh, quốc phòng; làm lộ bí mật nhà nước hoặc vi phạm các khu vực cấm, vành đai an toàn của công trình quân sự.
- Lập vi bằng xâm phạm bí mật đời tư cá nhân theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự hoặc trái đạo đức xã hội.
Xung đột thẩm quyền giữa Vi bằng và Công chứng/Chứng thực
Một điểm quan trọng cần lưu ý là Thừa phát lại không được lập vi bằng để thay thế chức năng của cơ quan có thẩm quyền trong các việc sau:
- Xác nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự (đây là thẩm quyền của tổ chức hành nghề công chứng).
- Xác nhận tính chính xác của bản dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại.
- Xác nhận chữ ký, bản sao từ bản chính hoặc các nội dung thuộc phạm vi chứng thực của UBND các cấp.
Việc hiểu rõ ranh giới giữa các loại hình văn bản này giúp người dân tránh được các rủi ro pháp lý không đáng có khi thực hiện các giao dịch quan trọng. Để kiểm tra tính chính xác của các quy trình hành chính liên quan, người dân có thể sử dụng các phương thức cách tra cứu thủ tục hành chính công để đối chiếu với quy định hiện hành.
Xem thêm các chủ đề khác