Mẹ tôi bị bệnh nặng, nhà lại neo người nên tôi làm đơn xin phép và được công ty cho nghỉ 01 tháng về quê chăm mẹ. Tuy nhiên, do bệnh mẹ tôi không thuyên giảm nên tôi đã gọi điện thông báo với công...
(Tôi đã nghỉ tổng số 01 tháng 10 ngày). Tuy nhiên, khi tôi trở lại Công ty thì không được nhận lại với lý do tôi nghỉ quá thời gian đã thỏa thuận nên Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Đề nghị cho tôi biết pháp luật quy định về việc nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động như thế nào? Nếu người sử dụng lao động có hành vi vi phạm thì mức xử phạt quy định như thế nào?
Trả lời:
- Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực ngày 01/01/2021) quy định các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động như sau:
“a) Người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ;
b) Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;
c) Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
d) Lao động nữ mang thai theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật này;
đ) Người lao động được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
e) Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
g) Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác;
h) Trường hợp khác do hai bên thỏa thuận
2. Trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động không được hưởng lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.”.
- Điều 31 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định việc nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động như sau:
“Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật thì việc anh/chị và công ty thỏa thuận tạm hoãn việc thực hiện hợp đồng lao động trong 01 tháng là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 30. Tuy nhiên, sau đó, anh/chị nghỉ thêm 10 ngày rồi đến công ty nhưng không được nhận lại. Như vậy, trong trường hợp không có thỏa thuận nào khác, Công ty nơi anh/chị làm việc đã vi phạm quy định của luật lao động (do chưa quá 15 ngày kể từ ngày hết hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động anh/chị đã có mặt tại công ty làm việc) quy định tại Điều 31. Anh/chị đã thực hiện đúng theo quy định của luật lao động, theo đó công ty không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh/chị.
- Điểm b Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định hành vi vi phạm quy định về thực hiện hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:
“2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
b) Không nhận lại người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận khác;”
- Theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 quy định mức phạt tiền:
“1. Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV của Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 Điều 6; khoản 3, 4, 6 Điều 12; khoản 2 Điều 24; khoản 1 Điều 25; khoản 1, 5, 6, 7 Điều 26; khoản 5 Điều 40; các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 41; khoản 2, 4 Điều 42; khoản 1, 2 Điều 43; các khoản 1, 2, 3 Điều 44; các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 45 của Nghị định này. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”.
Trường hợp người chủ sử dụng lao động có hành vi Không nhận lại người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đ đến 7.000.000 đồng. /.
Đỗ Như Quỳnh