Trong thời kỳ hôn nhân, ông Cường và bà Mai cùng mua một mảnh đất (đứng tên cả 2 vợ chồng trên sổ đỏ). Do cần tiền đầu tư chứng khoán cá nhân, ông Cường đã tự ý mang sổ đỏ đi ký hợp đồng thế chấp...
Để hợp thức hóa, ông Cường đã nhờ một người phụ nữ khác giả danh bà Mai, ký giả chữ ký của bà Mai trên hợp đồng thế chấp được công chứng. Khi ngân hàng đến kiểm tra tài sản để xử lý nợ, bà Mai mới biết và khởi kiện đòi tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu. Hợp đồng thế chấp tài sản chung vợ chồng nhưng thiếu chữ ký thực của một bên do bị giả mạo sẽ bị xử lý như thế nào? Ngân hàng có được coi là bên thứ ba ngay tình để giữ lại tài sản không?
Trả lời:
Tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau:
Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 15/02/2015
Điều 13. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
Như vậy, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì việc định đoạt tài sản chung là bất động sản phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Giao dịch dân sự không có sự tự nguyện, giả mạo ý chí của một bên chủ thể (bà Mai bị giả chữ ký) thì giao dịch đó bị vô hiệu. Ngân hàng không thể áp dụng quy định bảo vệ bên thứ ba ngay tình (Điều 133 BLDS) vì lỗi thẩm định trực tiếp thuộc về ngân hàng và tổ chức hành nghề công chứng khi để xảy ra tình trạng người giả mạo ký tên. Hợp đồng thế chấp này sẽ bị Tòa án tuyên vô hiệu. Ngân hàng E không được công nhận là bên thứ ba ngay tình vì đã thiếu trách nhiệm trong khâu thẩm định, đối chiếu nhân thân người ký hợp đồng tại thời điểm công chứng/ký kết. Ngân hàng phải trả lại Sổ đỏ cho bà Mai và ông Cường, đồng thời ông Cường phải chịu trách nhiệm cá nhân bằng tài sản riêng đối với khoản vay.
Tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
Điều 133. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú