Chúng tôi là bạn bè đồng niên, có nguyên tắc hỗ trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Một người trong nhóm gặp khó khăn, muốn vay tiền để khởi nghiệp. Trường hợp người này vay của mỗi người trong nhóm,...
Trả lời
Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm:
“1. Cầm cố tài sản.
2. Thế chấp tài sản.
3. Đặt cọc.
4. Ký cược.
5. Ký quỹ.
6. Bảo lưu quyền sở hữu.
7. Bảo lãnh.
8. Tín chấp.
9. Cầm giữ tài sản”.
Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại. Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện. Điều 295 của Bộ luật này quy định về tài sản bảo đảm như sau:
“1. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
2. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”.
Theo khoản 1 Điều 296 của Bộ luật này, “một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Về nguyên tắc, giá trị tài sản bảo đảm thường phải lớn hơn hoặc bằng giá trị nghĩa vụ được bảo đảm. Tuy nhiên, hai bên giao dịch bảo đảm cũng có thể thỏa thuận giá trị của tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
Quy định nêu trên cho thấy, có thể dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Nếu giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm thấp hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, cần có sự chấp thuận của bên nhận bảo đảm hoặc trường hợp do pháp luật quy định.
Nếu sử dụng một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, theo khoản 2 của Điều này, “bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản”.
Như vậy, bạn của bạn sử dụng một căn nhà để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ vay tiền của mỗi người trong nhóm khi căn nhà đó đáp ứng các điều kiện:
- Giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác);
- Bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết (để có sự đồng ý xác lập các biện pháp bảo đảm đó từ các chủ thể của nhiều quan hệ nghĩa vụ);
- Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản (để xác định riêng quyền và nghĩa vụ, làm căn cứ xử lý tài sản bảo đảm).
Giả sử phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ trả nợ tiền vay đến hạn thì các nghĩa vụ trả nợ tiền vay với người khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm (cho vay) đều được tham gia xử lý tài sản.
Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác.
Theo khoản 3 của Điều này, “trường hợp các bên muốn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn thì có thể thỏa thuận về việc bên bảo đảm dùng tài sản khác để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn”.
Có nghĩa là, ngay cả trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm, nếu muốn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chưa đến hạn thì những người cho vay và người vay có thể thỏa thuận sử dụng tài sản khác để bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn này. Thậm chí, có thể thỏa thuận khoản vay không có bảo đảm là quy định của pháp luật dân sự.
Vũ Thị Thanh Tú