Con trai tôi tham gia đánh nhau và đã làm bị thương nhẹ một người, khi công an đến giải quyết thì con tôi đã bỏ trốn. Vừa qua, cơ quan công an đã có giấy triệu tập gửi về gia đình tôi nhưng cháu...
Sau đó gia đình tôi đã liên hệ, vận động cháu đến cơ quan công an đầu thú và cháu đã đồng ý. Tuy nhiên khi cháu đến đầu thú tại cơ quan công an thì liền bị giữ lại ngay, trong khi đó những người tham gia khác hầu hết đều được thả. Việc con tôi bị giữ lại như vậy có đúng không? Nếu đúng thì thời gian bị giữ là bao lâu?
Trả lời:
Theo thông tin ông(bà) cung cấp thì con ông(bà) có thể bị tạm giữ theo một trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1, hành vi của con trai ông(bà) chỉ là vi phạm hành chính, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp hành chính để ngăn chặn hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ quyết định xử lý vi phạm hành chính thì sẽ bị tạm giữ theo thủ tục hành chính (theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 42/2010/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính quy định về các trường hợp được tạm giữ người theo thủ tục hành chính).
Trường hợp con trai ông(bà) tham gia đánh nhau gây thương tích rồi bỏ trốn và khi cơ quan công an có giấy triệu tập thì không có mặt sau đó mới đến đầu thú. Như vậy, cơ quan công an có thẩm quyền tạm giữ con ông(bà) theo quy định của pháp luật vì con ông(bà) có hành vi gây thương tích cho người khác và bỏ trốn thuộc tình tiết tăng nặng của hành vi.
Thời hạn tạm giữ được quy định tại Điều 2 Thông tư số 42/2010/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính như sau:
“Điều 2. Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính
1. Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt giữ người vi phạm. Trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng cũng không được quá 24 giờ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Quy chế về tạm giữ người theo thủ tục hành chính”
Như vậy, thời hạn cơ quan công an tạm giữ con ông(bà) là không quá 12 giờ kể từ thời điểm bắt giữ. Trong trường hợp cần thiết thì thời hạn kéo dài không quá 24 giờ.
Trường hợp 2, nếu hành vi của con trai ông(bà) đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): " Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…". Khi đó, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc có căn cứ chứng tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội thì cơ quan điều tra có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam... được quy định tại Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Còn trường hợp con trai ông(bà) bị cơ quan công an tạm giữ theo quy định tại Điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: "Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.".
Như vậy, con ông(bà) có thể bị tạm giữ trong trường hợp cơ quan công an cần có thời gian để lấy lời khai và xác minh những tình tiết cần làm rõ về hành vi phạm tội, căn cước, lý lịch, nhân thân của con bà; hoặc công an cho rằng con bà có thể bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Về thời hạn tạm giữ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:
“1. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.
2. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.”
Như vậy, thời hạn tạm giữ đối với trường hợp này là không quá 3 ngày. Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Khánh Chi
Nguyễn Sỹ Tuấn