📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Xử ý đối với người chứa chấp sử dụng ma túy, người sử dụng ma túy trong thời gian cách ly toàn xã hội

Kể từ khi có “lệnh” cách ly toàn xã hội của Thủ tướng Chính phủ, các quán kinh doanh dịch vụ karaoke tại khu phố nhà tôi bị buộc phải đóng cửa. Tuy nhiên, hộ nhà ông C về đêm vẫn lén lút cho nhiều...

Kể từ khi có “lệnh” cách ly toàn xã hội của Thủ tướng Chính phủ, các quán kinh doanh dịch vụ karaoke tại khu phố nhà tôi bị buộc phải đóng cửa. Tuy nhiên, hộ nhà ông C về đêm vẫn lén lút cho nhiều đối tượng nghiện ma túy tụ tập tại quán karaoke của mình để sử dụng ma túy nhằm thu tiền dịch vụ. Việc làm này của ông C đã tạo dư luận bất bình của bà con khu phố và gây nguy cơ lây lan dịch bệnh Covid – 19. Xin hỏi việc làm của ông C và các đối tượng nghiện ma túy trên có vi phạm pháp luật không? Và sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

- Đối với ông C: Theo hướng dẫn tại mục 7.1, 7.2, phần II, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư liên tịch số 08/2015/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015) về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy như sau:

7. Tội chứa chấp việc sử sựng trái phép chất ma túy (Điều 198)

7.1. “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy.

7.2. “Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.

Như vậy, với hành vi lén lút cho nhiều đối tượng nghiện ma túy tụ tập tại quán karaoke của mình để sử dụng ma túy nhằm thu tiền dịch vụ, ông C đã vi phạm quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, cụ thể như sau:

Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với người dưới 16 tuổi;

d) Đối với 02 người trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ngoài ra, hành vi cho nhiều người tụ tập tại quán kinh doanh karaoke của mình, ông C đã vi phạm Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19 (điểm b mục 2 của Chỉ thị này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo áp dụng biện pháp hạn chế tụ tập đông người 00 giờ ngày 28 tháng 3 đến hết ngày 15 tháng 4 năm 2020, bao gồm “tạm đình chỉ hoạt động các cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn, trừ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cơ sở kinh doanh, dịch vụ cần đóng cửa”); Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 (yêu cầu mọi người dân ở tại nhà, chỉ ra ngoài trong trường hợp thật sự cần thiết như mua lương thực, thực phẩm, thuốc men, cấp cứu, làm việc tại nhà máy, cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu không bị đóng cửa, dừng hoạt động và các trường hợp khẩn cấp khác; thực hiện nghiêm việc giữ khoảng cách tối thiểu 2m khi giao tiếp; không tập trung quá 2 người ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện và tại nơi công cộng.) và Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 31/03/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (“các cơ sở kinh doanh dịch vụ đóng cửa, tạm dừng kinh doanh toàn bộ các dịch vụ kinh doanh…). Với hành vi vi phạm này, ông C có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c, khoản 4, Điều 11 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, cụ thể như sau:

Điều 11. vi phạm quy định về áp dụng biện pháp phòng dịch

…..

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

…..

Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng.

- Đối với các đối tượng nghiện ma túy: Với việc tụ tập tại quán karaoke để sử dụng trái phép ma túy, các đối tượng này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể như sau:

Điều 21. Vi phạm các quy định về phòng, chống và kiểm soát ma túy

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Ngoài ra, hành vi của các đối tượng nghiện ma túy tụ tập đông người tại quán kinh doanh karaoke trong thời gian cách ly xã hội, các đối tượng này đã vi phạm Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19; Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 31/03/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Với hành vi vi phạm này, các đối tượng này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c, khoản 4, Điều 11 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, cụ thể như sau:

Điều 11. Vi phạm quy định về áp dụng biện pháp chống dịch

…..

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

…..

c) Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng.”

Nguyễn Tuân

Nguyễn Sỹ Tuấn

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận