Xử lý đối với chủ khách sạn cho khách mua bán dâm trong thời gian cách ly xã hội
Trong thời gian vừa qua khi cả nước đang tích cực, tập trung cao độ cho phòng, chống dịch bệnh Covid - 19 thì khách sạn của Ông M vẫn có khách ra vào.
Theo tìm hiểu được biết trong thời gian thực hiện cách ly xã hội, ông M vẫn lén lút cho khách và gái bán dâm đến khách sạn để mua bán dâm hoặc khi khách có nhu cầu mua dâm tại khách sạn thì ông gọi gái mại dâm đến phục vụ. Trong số gái bán dâm thường xuyên đến khách sạn phục vụ khách có 01 cô gái mới 17 tuổi. Xin hỏi hành vi vi phạm của ông M sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm thì: “Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.”. Theo Công văn số 105/2003/KHXX ngày 18/8/2003 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về việc áp dụng Điều 254 Bộ Luật Hình sự năm 1999 thì: “Cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm” quy định tại khoản 4 Điều 3 của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm là hành vi của tổ chức, cá nhân có quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản mà cho thuê, cho mượn để hoạt động mại dâm”.
Điều 327 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tội chứa mại dâm” như sau:
Điều 327. Tội chứa mại dâm
1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Cưỡng bức mại dâm;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Chứa mại dâm 04 người trở lên;
đ) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
g) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
b) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Đối với 02 người trở lên từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;
c) Cưỡng bức mại dâm dẫn đến người đó chết hoặc tự sát.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Theo quy định tại điểm a Mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ Luật Hình sự năm 1999 thì: “Trong trường hợp chủ hoặc người quản lý khách sạn, nhà trọ... gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua bán dâm ngay tại khách sạn, nhà trọ... thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của người gọi gái mại dâm thì người đó chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội chứa mại dâm”.
Mặt khác tại mục 4 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự quy định:
“4. Về tình tiết "phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 254 Bộ luật Hình sự
4.1. Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội nhiều lần" đối với người chứa mại dâm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a. Chứa mại dâm (không phân biệt tại một địa điểm hay tại các địa điểm khác nhau) một đôi hoặc nhiều đôi mua bán dâm khác nhau từ hai lần trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau (không phân biệt thời gian dài hay ngắn);
b. Chứa mại dâm hai đôi mua bán dâm trở lên độc lập với nhau trong cùng một khoảng thời gian;
c. Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau.
4.2. Không coi là phạm tội nhiều lần trong các trường hợp sau đây:
a. Chứa mại dâm một đôi mua bán dâm trong một khoảng thời gian liên tục;
b. Chứa mại dâm nhiều người (một nhóm) cùng đến mua bán dâm, nhưng chỉ một người trong số họ hoặc một số người trong số họ hoặc tất cả họ cùng nhau thỏa thuận đứng ra giao dịch với người chứa mại dâm để trả tiền thuê địa điểm, phương tiện một lần và việc mua bán dâm diễn ra trong cùng một khoảng thời gian.”
Như vậy, căn cứ vào những quy định pháp luật trên thì hành vi bố trí phòng cho khách mua bán dâm tại khách sạn của mình của ông M đã cấu thành “Tội chứa mại dâm” được quy định tại Điều 327 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Với việc cho khách mua, bán dâm nhiều lần và người bán dâm dưới 18 tuổi bán dâm tại khách sạn của mình, thì ông M sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự nêu trên. Mức hình phạt được áp dụng đối với ông M là bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Ngoài ra, ông M còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Ngoài ra, trong thời gian cách ly xã hội, việc ông M vẫn cho khách đến khách sạn đã vi phạm Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19; Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 31/03/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Với hành vi vi phạm này, các đối tượng này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c, khoản 4, Điều 11 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, cụ thể như sau:
“Điều 11. Vi phạm quy định về áp dụng biện pháp chống dịch
…..
4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
…..
c) Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng.”
Tuấn Đạt
Nguyễn Sỹ Tuấn