Xử lý hành vi xuất khẩu khẩu trang không có giấy phép của Bộ Y tế
Công ty chúng tôi có đối tác ở Châu Âu nhờ mua tại Việt Nam và xuất sang cho họ khẩu trang y tế, số lượng càng nhiều càng tốt, ít nhất là 20 nghìn chiếc. Được biết, mặc dù nhiều doanh nghiệp Việt...
Giám đốc Công ty giao cho tôi trực tiếp tìm mọi cách để thực hiện trong thời gian gấp để kịp chuyến bay hạn chế. Tôi đang rất băn khoăn, lo ngại vì không biết, nếu bị Hải quan phát hiện khai báo gian dối từ hàng này thành hàng khác, Công ty của chúng tôi sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải.
Theo điểm a, điểm c khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan năm 2014, người khai hải quan là chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải có nghĩa vụ:
“a) Khai hải quan và làm thủ tục hải quan theo quy định của Luật này;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình; về sự thống nhất nội dung thông tin giữa hồ sơ lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ lưu tại cơ quan hải quan”.
Thông tin của bạn được hiểu, Công ty có kế hoạch xuất khẩu khẩu trang y tế cho đối tác nước ngoài, nhưng dự định khai báo gian dối thành mặt hàng khác để trốn tránh sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan. Nếu thực hiện hành vi đó, Công ty đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của người khai hải quan, vi phạm điều cấm được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 của Luật này, đó là: “Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
Khẩu trang y tế là trang thiết bị y tế chịu sự quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế. Thông thường, khi có chừng nhận lưu hành tự do (CFS), Phiếu phân loại trang thiết bị y tế loại A, doanh nghiệp thực hiện thủ tục xuất khẩu tại cơ quan Hải quan. Tuy nhiên, ngày 28/02/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 20/NQ-CP về việc áp dụng chế độ cấp giấy phép xuất khẩu đối với mặt hàng khẩu trang y tế trong giai đoạn phòng, chống dịch COVID-19. Tại mục 1 của Nghị quyết này nêu rõ: “Bộ Y tế áp dụng chế độ cấp giấy phép xuất khẩu đối với mặt hàng khẩu trang y tế trong giai đoạn phòng, chống dịch COVID-19 và chỉ cho phép xuất khẩu với mục đích viện trợ, hỗ trợ quốc tế do Chính phủ Việt Nam thực hiện (tối đa 25% sản lượng cho xuất khẩu, 75% sản lượng dành cho công tác phòng, chống dịch bệnh trong nước)”.
Có nghĩa là, để thực hiện thủ tục xuất khẩu khẩu trang y tế, Công ty bạn phải được Bộ Y tế cấp giấy phép xuất khẩu cho lô hàng. Bạn cũng cần lưu ý, Bộ Y tế chỉ câp giấy phép cho các trường hợp vì mục đích viện trợ, hỗ trợ quốc tế do Chính phủ Việt Nam thực hiện.
Nếu không có giấy phép, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, Công ty bạn sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
Trường hợp bị xử lý vi phạm hành chính: Theo khoản 7 Điều 14 Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013, được sửa đổi bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26/05/2016 của Chính phủ, hành vi xuất khẩu hàng hóa không có giấy phép bị xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp tang vật vi phạm có trị giá dưới 30.000.000 đồng;
b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp tang vật vi phạm có trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp tang vật vi phạm có trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
d) Phạt tiền từ 230.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp tang vật vi phạm có trị giá từ 100.000.000 đồng mà không phải là tội phạm;
Mức phạt tiền áp dụng đối với hành vi xuất khẩu hàng hóa không có giấy phép căn cứ vào trị giá của tang vật vi phạm. Trường hợp của Công ty bạn chính là trị giá lô hàng khẩu trang xuất khẩu không có giấy phép của Bộ Y tế.
Nếu bị xử lý hình sự, theo điểm 1.7 công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020, “người có hành vi đã, đang hoặc nhằm đưa trái phép thuốc, vật tư y tế dùng vào việc phòng, chống dịch bệnh Covid-19 ra khỏi biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thu lợi bất chính thì bị xử lý về tội buôn lậu theo quy định tại Điều 188”.
Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội buôn lậu như sau:
“1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
h) Phạm tội 02 lần trở lên;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; hàng hóa trị giá dưới 200.000.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h và i khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.
Ngọc Đức
Vũ Thị Thanh Tú