📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Xử lý hành vi trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế tại nhà

Tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt hiện nay chủng virus đã biến thể. Một số tỉnh, thành phố đã có ca lây nhiễm trong cộng đồng vì vậy đòi hỏi mỗi người dân phải...

Tôi muôn hỏi, những trường hợp khi phải cách ly y tế tại nhà, nhưng chưa đủ thời hạn đã tự ý ra ngoài, thậm chí đến những nơi đông người như lớp học ngoại ngữ, rạp chiếu phim, siêu thị…

Xin các anh chị cho biết, người có hanh vi như trên bị pháp luật hiện tại xử lý như thế nào?

Trả lời

Ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra. Quyết định nêu rõ: Công bố dịch truyền nhiễm tại Việt Nam. Tính chất, mức độ nguy hiểm của dịch: Bệnh truyền nhiễm nhóm A, nguy cơ ở mức độ khẩn cấp toàn cầu.

COVID-19 là bệnh truyền nhiễm nhóm A, là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. Một trong những biện pháp để phòng chống dịch bệnh lây lan là cách ly y tế.

Khoản 16 Điều 2 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định: “Cách ly y tế là việc tách riêng người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm hoặc vật có khả năng mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh”.

Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 49 của Luật này như sau:

“1. Người mắc bệnh dịch, người bị nghi ngờ mắc bệnh dịch, người mang mầm bệnh dịch, người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh dịch thuộc nhóm A và một số bệnh thuộc nhóm B theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế phải được cách ly.

2. Hình thức cách ly bao gồm cách ly tại nhà, tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tại các cơ sở, địa điểm khác.

3. Cơ sở y tế trong vùng có dịch chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cách ly theo chỉ đạo của Trưởng ban chỉ đạo chống dịch. Trường hợp các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này không thực hiện yêu cầu cách ly của cơ sở y tế thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cách ly theo quy định của Chính phủ”.

Các hình thức, biện pháp cách ly y tế bao gồm:

- Cách ly y tế tại nhà;

- Cách ly tại cơ sở y tế;

- Cách ly y tế tại cửa khẩu;

- Cách ly y tế tại các cơ sở, địa điểm khác.

Theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 101/2010/NĐ-CP ngày 30/9/2010 của Chính phủ, biện pháp cách ly y tế tại nhà được áp dụng đối với các trường hợp sau:

“a) Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm đang lưu trú tại vùng có bệnh dịch, trừ đối tượng là người mắc dịch bệnh thuộc nhóm A và một số bệnh dịch thuộc nhóm B theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là một số bệnh thuộc nhóm B);

b) Người xuất phát hoặc đi qua vùng có bệnh dịch thuộc nhóm A và một số bệnh thuộc nhóm B;

c) Người tiếp xúc với người mắc bệnh dịch thuộc nhóm A và một số bệnh thuộc nhóm B”.

Căn cứ quy định nêu trên, người bị nghi ngờ mắc bệnh dịch, người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona đang lưu trú tại vùng có bệnh dịch; xuất phát hoặc đi qua vùng có bệnh dịch có thể bị áp dụng biện pháp cách ly y tế tại nhà.

Như đã nói ở trên, cách ly y tế, bao gồm cách ly y tế tại nhà là một trong những biện pháp phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm. Đây là biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với người có nguy cơ, ví dụ: Xuất phát hoặc đi qua vùng có bệnh dịch; Người tiếp xúc với người mắc bệnh dịch…

Nếu không tuân thủ như thông tin của bạn, người đó sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Cụ thể, theo điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, thực hiện một trong các hành vi “từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A đối tượng kiểm dịch y tế biên giới mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu” sẽ bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Thêm nữa, người đó còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 3 của Điều này. Đó là: “Buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế đối với hành vi quy định tại các điểm a, b khoản 1 và các điểm a, b khoản 2 Điều này”.

Thậm chí, nếu trốn tránh cách ly y tế làm lây lan dịch bệnh COVID-19 cho người khác, họ còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội làm lây lan dịch truyền nhiễm nguy hiểm cho người khác như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người;

c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế;

b) Làm chết người.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm:

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

b) Làm chết 02 người trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Tại mục 1.1 khoản 1 Hướng dẫn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn như xét xử tôi phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh COVID-19 như sau:

1.1. Người đã được thông báo mắc bệnh; người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh Covid-19 đã được thông báo cách ly thực hiện một trong các hành vi sau đây gây lây truyền dịch bệnh Covid-19 cho người khác thì bị coi là trường hợp thực hiện “hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 240 và bị xử lý về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người khác

a) Trốn khỏi nơi cách ly;

b) Không tuân thủ quy định về cách ly;

c) Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;

d) Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối

Như vậy theo hướng dẫn này thì hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người theo điểm c khoản 1 Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) gồm hành vi : Trốn khỏi nơi cách ly; Không tuân thủ quy định về cách ly;Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly; Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối

Trường hợp người không mắc bệnh, nhưng làm phát sinh chi phí gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người theo quy định tại Điều 295 theo mục 1.2 Hướng dẫn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn như xét xử tôi phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh COVID-19

1.2. Người chưa bị xác định mắc bệnh Covid-19 nhưng sống trong khu vực đã có quyết định cách ly, quyết định phong tỏa thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý về tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người theo quy định tại Điều 295:

a) Trốn khỏi khu vực bị cách ly, khu vực bị phong tỏa;

b) Không tuân thủ quy định cách ly;

c) Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;

d) Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối

Tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự như sau:

Điều 295. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người

1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương th61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

d) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tng tỷ lệ tn thương cơ thcủa những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận