Xử lý hành vi tẩy xoá, sửa chữa giấy khai sinh để xin cấp xác nhận tình trạng hôn nhân
Theo giấy khai sinh, con gái hàng xóm nhà tôi năm nay 17 tuổi. Vì cháu sớm có bạn trai, lỡ dính bầu nên hai gia đình quyết định tổ chức đám cưới.
Để có thể đăng ký kết hôn, bố mẹ cháu đã tự sửa năm sinh trên giấy khai sinh của cháu. Bị phát hiện, cán bộ tư pháp Phường không đồng ý cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, không tiếp nhận hồ sơ hồ sơ đăng ký kết hôn, đồng thời, thu giữ giấy khai sinh của cháu.
Đề nghị anh chị tư vấn, hành vi nói trên bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Vi phạm quy định về cấp, sử dụng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bị xử lý theo Điều 40 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ như sau:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;
b) Cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;
c) Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;
d) Sử dụng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không đúng mục đích ghi trong giấy xác nhận.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật là giấy tờ, văn bản bị tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp do có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, các điểm a, b và c khoản 2 Điều này; giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quy định tại khoản 1 Điều này”.
Theo đó, hành vi tẩy xóa, sửa chữa giấy khai sinh để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như trường hợp bạn nêu sẽ bị phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 03 triệu đồng. Đồng thời, bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật đối với giấy tờ này.
Kết hôn, theo khoản 5 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật này, bao gồm:
“a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.
Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Đó là căn cứ để Nhà nước công nhận quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ. Trường hợp không được đăng ký thì việc kết hôn không có giá trị pháp lý.
Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 18 của Luật Hộ tịch năm 2014 như sau:
“1. Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.
2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.
Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc”.
Như vậy, con gái gia đình hàng xóm nhà bạn mới 17 tuổi, không đáp ứng về độ tuổi kết hôn nên cơ quan có thẩm quyền không cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, không tiếp nhận hồ sơ để giải quyết thủ tục đăng ký kết hôn là đúng quy định của pháp luật.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú