Xử lý hành vi không tuân thủ cách ly y tế tại nhà để phòng chống dịch bệnh COVID-19
Hàng xóm nhà tôi làm cùng cơ quan với người tiếp xúc gần với người đã được xác định nhiễm COVID-19. Theo cách nói thông thường, người này thuộc diện F2, phải tự cách ly tại nhà.
Tuy nhiên, có lần người này đã lái xe ra ngoài, không rõ đi đâu đến hơn nửa ngày mới quay về.
Hành vi này rõ ràng là thiếu ý thức phòng, chống dịch bệnh, gây nguy hiểm cho cộng đồng. Nghe nói, cảnh sát khu vực và nhân viên y tế Phường đã nhắc nhở. Nhưng thiết nghĩ, cần phải có chế tài xử lý mạnh hơn để răn đe không chỉ với người này, tránh tái phạm, mà còn làm gương với người khác. Mong các anh chị giúp chỉ rõ, việc không thực hiện cách ly tại nhà có bị pháp luật xử lý hay không?
Trả lời
Bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 được xác định là bệnh truyền nhiễm, có thể lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.
Một trong những biện pháp chống dịch bệnh này đã và đang được áp dụng tại Việt Nam cũng như trên thế giới là tổ chức cách ly y tế.
Theo khoản 16 Điều 2 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, “Cách ly y tế là việc tách riêng người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm hoặc vật có khả năng mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh”.
Việc tổ chức cách ly y tế được quy định tại Điều 49 của Luật này như sau:
“1. Người mắc bệnh dịch, người bị nghi ngờ mắc bệnh dịch, người mang mầm bệnh dịch, người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh dịch thuộc nhóm A và một số bệnh thuộc nhóm B theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế phải được cách ly.
2. Hình thức cách ly bao gồm cách ly tại nhà, tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tại các cơ sở, địa điểm khác.
3. Cơ sở y tế trong vùng có dịch chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cách ly theo chỉ đạo của Trưởng ban chỉ đạo chống dịch. Trường hợp các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này không thực hiện yêu cầu cách ly của cơ sở y tế thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cách ly theo quy định của Chính phủ”.
Biện pháp cách ly y tế tại nhà, theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 101/2010/NĐ-CP ngày 30/9/2010 của Chính phủ, được áp dụng đối với các trường hợp:
“a) Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm đang lưu trú tại vùng có bệnh dịch, trừ đối tượng là người mắc dịch bệnh thuộc nhóm A và một số bệnh dịch thuộc nhóm B theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là một số bệnh thuộc nhóm B);
b) Người xuất phát hoặc đi qua vùng có bệnh dịch thuộc nhóm A và một số bệnh thuộc nhóm B;
c) Người tiếp xúc với người mắc bệnh dịch thuộc nhóm A và một số bệnh thuộc nhóm B”.
Ngày 07/02/2020, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 345/QĐ-BYT để hướng dẫn cách ly y tế tại nhà, nơi lưu trú đề phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCOV) gây ra. Trong đó nêu rõ, thời gian cách ly tối đa 14 ngày, số ngày cách ly cụ thể được tính từ ngày tiếp xúc lần cuối với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc từ ngày nhập cảnh vào Việt Nam. Khi người nghi ngờ mắc bệnh được chẩn đoán loại trừ không mắc bệnh thì những người được cách ly có liên quan sẽ kết thúc việc cách ly.
Tại mục 5.2 của Hướng dẫn này, người được cách ly phải thực hiện như sau:
“a) Chấp hành việc tự cách ly tại nhà, nơi lưu trú đúng thời gian quy định, tốt nhất cách ly ở một phòng riêng. Trong trường hợp gia đình, nơi lưu trú không có phòng riêng thì giường ngủ của người được cách ly nên cách xa giường ngủ của các thành viên khác trong gia đình ít nhất 2 mét.
b) Phòng cách ly nên đảm bảo thông thoáng khí, thường xuyên được vệ sinh, hạn chế các đồ đạc vật dụng trong phòng, nơi cách ly.
c) Tự đo nhiệt độ cơ thể ít nhất 2 lần (sáng, chiều) một ngày; ghi chép kết quả đo và tình trạng sức khỏe chung vào phiếu theo dõi sức khỏe hàng ngày.
d) Hàng ngày hạn chế ra khỏi phòng riêng, hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người trong gia đình, nơi lưu trú cũng như những người khác; tự theo dõi sức khỏe; thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân, đeo khẩu trang, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn khác.
đ) Hàng ngày thông báo cho cán bộ y tế xã, phường, thị trấn được phân công phụ trách theo dõi 2 lần sáng, chiều về kết quả đo nhiệt độ và tình hình sức khỏe của bản thân.
e) Thông báo ngay cho cán bộ y tế xã, phường, thị trấn được phân công phụ trách theo dõi ngay khi có một trong các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh: sốt, ho, khó thở.
g) Không được tự động rời khỏi nhà, nơi lưu trú.
h) Người được cách ly phải thu gom khẩu trang, khăn, giấy lau mũi, miệng đã qua sử dụng vào túi đựng rác thải riêng và để gọn vào góc phòng của người được cách ly.
i) Không ăn chung cùng với những người khác trong gia đình, nơi lưu trú”.
Như vây, người được áp dụng biện pháp cách ly y tế không được tự động rời khỏi khu vực cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, phải chấp hành việc tự cách ly đúng thời gian quy định.
Không thực hiện đúng các quy định nêu trên, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Cụ thể:
Theo điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 10 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ, hành vi “từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, đối tượng kiểm dịch y tế biên giới mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A” sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đồng thời, bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế.
Trường hợp trốn cách ly y tế, làm lây lan dịch bệnh, người này phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đó là:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người;
c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Làm chết người.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm:
a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;
b) Làm chết 02 người trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú