📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Xử lý hành vi không đeo khẩu trang nơi công cộng

Hiện nay, Việt Nam đã xuất hiện việc lây nhiễm dịch bệnh COVID-19 tại 14 tỉnh, thành phố, đặc biệt là ở Đà Nẵng, Quảng Nam. Hà Nội đã xuất hiện ca nhiễm trong cộng đồng. Chính vì vậy, Chính phủ đã...

Xin hỏi hành vi không đeo khẩu trang nơi cộng cộng có phải là hành vi vi phạm pháp luật không? Nếu có mức xử phạt như thế nào?

Trả lời:

Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp SARS-COV-2 (COVID-19) đang diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng. Ý thức chủ động phòng, chống dịch của người dân là một giải pháp rất quan trọng như hạn chế tụ tập nơi đông người, tự giác cách ly nếu có yếu tố dịch tễ từng đi qua vùng dịch, tiếp xúc với người nghi nhiễm, đeo khẩu trang nơi công cộng, trên các phương tiện giao thông công công, sát khuẩn tay, giữ khoảng cách an toàn giữa người với người… Đặc biệt việc đeo khẩu trang nơi cộng cộng giúp hạn chế rất lớn nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh COVID-19

Ngoài việc tuyên truyền để người dân tự giác thực hiện, pháp luật quy định chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm để phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. Bộ Y tế đã xác định bệnh COVID-19 là bệnh lây nhiệm thuộc nhóm A, thuộc đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định những hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:

“1. Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.

2. Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.

3. Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật.

4. Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm.

5. Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm.

6. Không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này.

7. Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”.

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo 283/TB-VPCP ngày 8/8/2020 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phòng, chống dịch COVID-19 diễn ra ngày 7/8/2020 trong đó quy định: Yêu cầu mọi người dân thực hiện nghiêm việc đeo khẩu trang tại nơi cộng cộng, trên các phương tiện giao thông công cộng, hạn chế tập trung đông người không cần thiết.

Như vậy, hiện nay để đảm bảo phòng, chống dịch thì mọi người dân thực hiện nghiêm việc đeo khẩu trang tại nơi cộng cộng, trên các phương tiện giao thông công cộng, đây là quy định bắt buộc. Đồng nghĩa, người nào không thực hiện là vi phạm quy định của Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm. Thậm chí, có thể bị coi là hành vi cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, nếu như họ đang bị bệnh này. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người không đeo khẩu trang tại các nơi công cộng có tập trung đông người bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

Xử lý vi phạm hành chính:

Theo điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ, hành vi “Không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế” bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Trách nhiệm hình sự:

Người đang mắc bệnh, không đeo khẩu trang để cố tình làm lây lan dịch bệnh SARS-COV-2 cho người khác có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, được quy định tại Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đó là:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người;

c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế;

b) Làm chết người.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm:

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

b) Làm chết 02 người trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận