📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Xử lý hành vi khai thấp trị giá hàng hóa để gian lận lệ phí trước bạ, trốn thuế thu nhập cá nhân

Để giảm số lệ phí trước bạ phải nộp, thuế thu nhập cá nhân, tôi thấy nhiều trường hợp hai bên mua bán thỏa thuận ghi trên hợp đồng trị giá căn nhà chỉ bằng 1/2, 1/3 so với giao dịch thực tế. Xin...

Trả lời

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

“a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

Lệ phí trước bạ là một trong những loại lệ phí, theo khoản 2 Điều 3 Luật Phí và lệ phí năm 2015, “là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này”.

Về nguyên tắc, mức thu phí được xác định cơ bản bảo đảm bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân. Mức thu lệ phí được ấn định trước, không nhằm mục đích bù đắp chi phí; mức thu lệ phí trước bạ được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản; bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.

Cũng chính vì vậy, khoản 1 Điều 16 của Luật này quy định các hành vi nghiêm cấm bao gồm:

“a) Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức, cá nhân tự đặt và thu các loại phí, lệ phí;

b) Thu, nộp, quản lý và sử dụng khoản thu phí, lệ phí trái với quy định của pháp luật”.

Trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về phí, lệ phí thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Cụ thể: Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 186/2013/TT-BTC ngày 05/12/2013 của Bộ Tài chính quy định “Phạt tiền từ 01 đến 03 lần số tiền phí, lệ phí gian lận, trốn nộp đối với hành vi gian lận, trốn nộp phí, lệ phí theo quy định. Mức phạt tiền tối đa là 50.000.000 đồng”.

Một trong các khoản thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân là thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, được sửa đổi, bổ sung năm 2012, bao gồm:

“a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;

b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;

c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, quyền thuê mặt nước;

d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức."

Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển nhượng từng lần. Hiện nay, thuế suất thuế thu nhập phát sinh từ hoạt động này là 2% tính trên giá chuyển nhượng. Theo điểm đ khoản 1 Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, hành vi “sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm” sẽ bị phạt tiền 1 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên.

Nếu không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hành vi nêu trên bị phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn. Nếu có tình tiết tăng nặng, theo khoản 3, 4, 5 của Điều này, mức phạt tiền sẽ là:

- 1 tình tiết tăng nặng: mức phạt tiền sẽ là 2 lần số thuế trốn;

- 2 tình tiết tăng nặng: mức phạt tiền sẽ là 2,5 lần số thuế trốn;

- Từ 3 tình tiết tăng nặng trở lên: mức phạt tiền sẽ là 3 lần số thuế trốn.

Đồng thời, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước.

Thậm chí, căn cứ tính chất, mức độ vi phạm, hành vi nêu trên còn có thể bị xử lý hình sự về Tội trốn thuế, được quy định tại Điều 200 Văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự số 01/VBHN-VPQH ngày 10/7/2017, với mức phạt tối đa lên đến 4,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận