Xử lý hành vi chiếm đoạt tài sản
Cách đây gần một năm, em trai tôi xuất ngũ. Có người làm ở một cơ quan nhà nước ngỏ ý xin cho em trai tôi vào làm hợp đồng, vị trí lái xe đưa đón cán bộ, công chức đi làm hàng ngày, với chi phí...
Cách đây gần một năm, em trai tôi xuất ngũ. Có người làm ở một cơ quan nhà nước ngỏ ý xin cho em trai tôi vào làm hợp đồng, vị trí lái xe đưa đón cán bộ, công chức đi làm hàng ngày, với chi phí 100 triệu đồng cho bộ phận tuyển dụng và gia đình tôi đã đưa đầy đủ số tiền này.
Chờ mãi vẫn không có thông tin gì về việc em tôi sẽ được ký hợp đồng và đi làm, gia đình tôi đã trực tiếp đến cơ quan nói trên thì được biết họ không có kế hoạch tuyển dụng mới hợp đồng lái xe. Vì vậy, gia đình tôi yêu cầu trả lại tiền nhưng người này trả lời đã tiêu hết số tiền đó, lúc nào có sẽ trả lại.
Xin hỏi, nếu không chấp nhận, gia đình tôi có được đòi lại tiền vì người này không xin được việc cho em trai tôi hay không? Khi gia đình tôi tố cáo đến cơ quan công an, người này có thể bị xử lý như thế nào?
Trả lời
Thỏa thuận và việc đưa, nhận tiền giữa gia đình bạn và người nhận xin việc đã xác lập một giao dịch dân sự. Tuy nhiên, thỏa thuận này không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đó là:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.
Vì nội dung của giao dịch có việc phải đưa tiền để xin việc vào cơ quan nhà nước, tức là vi phạm điều cấm của luật, cho nên không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Theo Điều 132 của Bộ luật này, “giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này như sau:
“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định”.
Có nghĩa là, gia đình bạn có quyền yêu cầu người nhận xin việc hoàn trả lại số tiền 100 triệu.
Bên cạnh đó, nếu gia đình bạn tố cáo đến cơ quan công an, căn cứ tính chất, mức độ của hành vi, người này còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trường hợp không có khả năng xin được việc, đưa ra những thông tin giả tạo nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của gia đình bạn, hành vi của người này đã có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.
Nếu ngay từ đầu không có mục đích chiếm đoạt, nhưng do hoàn cảnh khách quan không xin được việc làm cho em trai bạn, nảy sinh ý định chiếm đoạt và không trả lại số tiền cho gia đình bạn, hành vi của người này đã có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 như sau:
“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”.
Admin Admin Admin