Xử lý hành vi cắt dán tiền để trao đổi thanh toán nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tôi có một sự việc muốn được trình bày như sau: “Tôi là chủ một cửa hàng thời trang, hôm trước tôi đi việc nên chỉ có một nhân viên ở nhà trông hàng và một nữ khách hàng đã đến mua một chiếc túi...
Tôi có một sự việc muốn được trình bày như sau: “Tôi là chủ một cửa hàng thời trang, hôm trước tôi đi việc nên chỉ có một nhân viên ở nhà trông hàng và một nữ khách hàng đã đến mua một chiếc túi xách. Buổi tối trước khi đóng cửa tôi thực hiện kiểm đếm lại tiền hàng thì phát hiện có rất nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nhưng bị cắt nửa và dán băng dính với một nửa tờ tiền 20.000 đồng. Tôi kiểm tra camera xác định do cháu nhân viên mới tuyển thiếu kinh nghiệm nên khi nữ khách hàng đó thanh toán chỉ đếm đầu tiền chứ không kiểm tra tờ tiền.”. Tôi đã trình báo sự việc cho bên công an nhưng tôi muốn hỏi trường hợp của tôi thì pháp luật quy định thế nào?
Trả lời:
Đối với câu hỏi của bạn, cần xem xét hành vi gian dối của đối tượng nữ khách hàng trên khi sử dụng thành công những tờ tiền đã bị cắt dán nhằm lợi dụng sự chủ quan trong việc kiểm đếm của nhân viên khi thu ngân hòng chiếm đoạt số tiền chênh lệch so với số tiền thực tế phải trả khi mua chiếc túi xách là dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, do trong nội dung câu hỏi, bạn không đề cập đến giá trị của chiếc túi xách và số tiền bị chiếm đoạt nên trong trường hợp này đối tượng có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt hành chính.
- Về việc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự: Trường hợp nếu tổng số tiền thiệt hại từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.”
- Về việc xử phạt hành chính: Trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định vừa nêu thì có thể xem xét xử lý hành chính đối tượng nữ khách hàng này đối với hai hành vi là hành vi phá hoại, hủy hoại tiền Việt Nam trái pháp luật và hành vi dùng thủ đoạn gia dối gây thiệt hại đến tài sản của người khác
1. Hành vi phá hoại, hủy hoại tiền Việt Nam trái pháp luật:
Tại Khoản 2 Điều 23 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định:
“Điều 23. Các hành vi bị cấm
2. Huỷ hoại đồng tiền trái pháp luật.”
Tại Khoản 2 Điều 3 Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg ngày 30/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc bảo vệ tiền Việt Nam quy định:
“Điều 3. Những hành vi bị nghiêm cấm
2. Hủy hoại tiền Việt Nam bằng bất kỳ hình thức nào.”
Theo quy định nêu trên, đối tượng đã có hành vi hủy hoại tiền Việt Nam thông qua việc cắt dán tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng với tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Như vậy, đối tượng sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đến 15 triệu đồng và tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm căn cứ tại Khoản 3, Khoản 5 Điều 31 Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, cụ thể:
“Điều 31. Vi phạm quy định về bảo vệ tiền Việt Nam
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi phá hoại, hủy hoại tiền Việt Nam trái pháp luật.
5. Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm tại các Khoản 2, 3, 4 Điều này, giao cơ quan có thẩm quyền xử lý.”
2. Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác:
Đối tượng sẽ bị xử phạt hành chính từ 1 triệu đến 2 triệu đồng và tịch thu toàn bộ tang vật cùng số lợi bất chính có được theo quy định tại điểm c Khoản 1, Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, cụ thể:
“Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1; Điểm c, đ, e Khoản 2 Điều này.”
Admin Admin Admin