📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Xử lý hành vi cản trở người khác ly hôn

Em và chồng cùng theo một Đạo, trước khi cưới đã cam kết tuân thủ nguyên tắc tự nguyện kết hôn nhưng không được phép ly hôn.

Nay cuộc sống quá ngột ngạt, em muốn chấm dứt nhưng anh ấy đã nhắc lại nguyên tắc trên để không đồng ý. Thậm chí, gây ảnh hưởng để em phải lựa chọn bỏ Đạo thì mới chấp nhận ly hôn.

Mong các anh chị tư vấn giúp, em có được đơn phương đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn hay không?

Trả lời

Tự do tín ngưỡng, kết hôn, ly hôn là các quyền hiến định cơ bản của cá nhân, được pháp luật bảo vệ. Cụ thể:

- Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

- Điều 36 của Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”.

Theo đó, không ai có quyền ép buộc người khác theo hoặc từ bỏ tôn giáo, cũng như cản trở thực hiện quyền ly hôn như trường hợp bạn nêu.

Căn cứ quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật đã cụ thể hóa nội dung nêu trên. Ví dụ: theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình”.

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Thậm chí, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, một trong những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn”.

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Về nguyên tắc, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Bên cạnh đó, Điều 56 của Luật này quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia”.

Tóm lại, bạn có quyền đơn phương đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn nếu có căn cứ nêu trên. Việc chồng bạn đưa ra điều kiện bỏ Đạo mới chấp nhận ly hôn không những vi phạm quy định quyền nhân thân của bạn, mà hành vi này còn có thể bị xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, hành vi “cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác” bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Luật Sư Việt Nam

Bình luận