Xử lý doanh nghiệp có hành vi phân biệt đối xử về giới trong lĩnh vực lao động, việc làm
Công ty nơi chúng em làm việc có đặt ra nhiều quy định riêng đối với lao động là nam, nữ. Chúng em thấy có sự phân biệt, ưu tiên hoặc hạn chế đối với cả nam và nữ tùy theo vị trí công việc để tuyển...
Không biết, Công ty làm như vậy có phải là không đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới, phân biệt đối xử, nhất là với lao động nữ hay không?
Trả lời
Điều 26 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.
2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.
3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.
Như vậy, pháp luật quy định công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, đồng thời nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới. Nam hay nữ thì cũng đều được đối xử công bằng trong mọi lĩnh vực đời sống, xã hội, bao gồm lĩnh vực lao động, việc làm.
Một trong những chính sách của Nhà nước về lao động, theo khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2019 là “Bảo đảm bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên”.
Riêng với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới, Bộ luật này dành hẳn Chương X để quy định cụ thể chính sách của Nhà nước, trách nhiệm của người sử dụng lao động, bảo vệ thai sản, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản, trợ cấp trong thời gian chăm sóc con...
Ví dụ, theo khoản 1 Điều 136 của Bộ luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm “Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác”.
Vi phạm quy định này, thực hiện hành vi được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ, “Không bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo một trong các trường hợp sau: tuyển dụng; bố trí; sắp xếp việc làm; đào tạo; thời giờ làm việc; thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương; các chế độ khác”, bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (đối với cá nhân vi phạm), bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (đối với tổ chức vi phạm).
Nếu thực hiện hành vi “đặt ra và thực hiện các quy định, quy chế có sự phân biệt đối xử về giới” được quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ng ày 28/12/2021 của Chính phủ, người vi phạm bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (đối với cá nhân vi phạm) và bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng (đối với tổ chức vi phạm).
Tóm lại, không bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới khi tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm cho người lao động, Công ty nơi các bạn làm việc bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.
Trường hợp Công ty từ chối tuyển dụng lao động nữ vì định kiến giới tính sẽ bị xử phạt hành chính gấp đôi mức phạt của cá nhân, mức phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 60 triệu đồng.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú