📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn

Cách đây 2 năm, em và một người sống chung với nhau, chưa đăng ký kết hôn nhưng chúng em có một con chung. Sau đó, vì không hợp nhau nên cả hai quyết định chia tay. Nay em gặp người mới, dự...

Cách đây 2 năm, em và một người sống chung với nhau, chưa đăng ký kết hôn nhưng chúng em có một con chung. Sau đó, vì không hợp nhau nên cả hai quyết định chia tay.

Nay em gặp người mới, dự định sẽ kết hôn. Các anh chị cho em hỏi, trường hợp của em đã từng sống chung với người khác, có con thì xin xác nhận tình trạng độc thân như thế nào? Em có thể đến chính quyền địa phương nơi em đang tạm trú để làm việc này hay không?

Trả lời

Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho cơ quan đăng ký kết hôn. Tùy từng trường hợp, cơ quan này có thể là Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.

Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ như sau:

“1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

2. Quy định tại Khoản 1 Điều này cũng được áp dụng để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, nếu có yêu cầu”.

Theo đó, về nguyên tắc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bạn thường trú sẽ cấp cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho bạn.

Bạn chỉ có thể thực hiện thủ tục này tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bạn tạm trú nếu bạn không có nơi thường trú.

Theo khoản 1 Điều 22 của Nghị định này, “người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”.

Bạn xin xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn. Do đó, bạn cần đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đó là:

“a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”.

Điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Thông tin của bạn cho thấy cách đây 2 năm bạn sống chung với người khác, có với nhau nhưng chưa đăng ký kết hôn. Có nghĩa là, giữa hai người chưa phải là vợ, chồng. Bởi lẽ, theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Tóm lại, việc trước đó bạn sống chung với người khác và có con không ảnh hưởng gì đến điều kiện xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn.

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.

Admin Admin Admin

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận