📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Xác định thiệt hại làm căn cứ bồi thường do tài sản bị xâm phạm

Anh bạn tôi đỗ xe ở vỉa hè thì bị một lái xe khác va vào gây hỏng hóc phải đi sửa chữa và sơn lại. Mặc dù có hóa đơn của gara về chi phí nhưng người gây ra vụ va chạm chỉ đồng ý bồi thường một nửa,...

Vậy, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được tính như thế nào để làm căn cứ bồi thường trong trường hợp nêu trên?

Trả lời

Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.

Về nguyên tắc, các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được quy định tại Điều 589 của Bộ luật này bao gồm:

“1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4. Thiệt hại khác do luật quy định”.

Pháp luật dân sự quy định việc bồi thường thiệt hại căn cứ vào thỏa thuận của các bên. Nếu không thỏa thuận được, theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì xác định thiệt hại do tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng như sau:

“a) Trường hợp tài sản là vật thì xác định thiệt hại đối với tài sản bị mất, bị hủy hoại căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản bị mất, bị hủy hoại tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Đối với tài sản là tiền thì thiệt hại được xác định là số tiền bị mất, bị hư hỏng.

Đối với giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà không thể khôi phục được thì thiệt hại được xác định là giá trị của các giấy tờ bị mất, bị hư hỏng tại thời điểm giải quyết bồi thường. Trường hợp giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà có thể khôi phục được thì thiệt hại được xác định là các chi phí cần thiết để khôi phục các giấy tờ đó.

b) Đối với tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là chi phí để sửa chữa, khôi phục lại tình trạng tài sản trước khi bị hư hỏng theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để xác định thiệt hại; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều này”.

Căn cứ các quy định nêu trên, để xác định thiệt hại cụ thể cần căn cứ tình trạng tài sản mà bên gây thiệt hại cho anh bạn của bạn đã bị hủy hoại hay chỉ bị hư hỏng có thể sửa chữa, khôi phục lại hay không.

Nếu tài sản đã bị hủy hoại, thiệt hại căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản bị mất, bị hủy hoại tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Nếu tài sản chỉ bị hư hỏng, thiệt hại là chi phí để sửa chữa, khôi phục lại tình trạng tài sản trước khi bị hư hỏng theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để xác định thiệt hại.

Lưu ý, chỉ khi tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục được thì thiệt hại được xác định như tài sản bị hủy hoại.

Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút cũng là thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 quy định “là hoa lợi, lợi tức mà người bị thiệt hại đang hoặc sẽ thu được nếu tài sản không bị mất, bị hư hỏng”. Nội dung khoản này cũng nêu rõ “Hoa lợi, lợi tức được tính theo giá thực tế đang thu, nếu chưa thu thì theo giá thị trường cùng loại hoặc mức giá thuê trung bình 01 tháng của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, hoa lợi, lợi tức được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra”.

Trường hợp không thỏa thuận được, thiệt hại làm căn cứ để bồi thường do tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng và lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút được xác định như trên.

Trên thực tế, khi các bên thỏa thuận được thì việc bồi thường có tính khả thi cao trong việc thực hiện, tránh được tranh chấp có thể dẫn tới phải khởi kiện để Tòa án quyết định.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Luật Sư Việt Nam

Bình luận