📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Văn bản chia tài sản chung của vợ chồng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực

Vợ chồng em trai tôi có 03 căn nhà, nay muốn để lại 01 cái làm tài sản chung, còn sẽ chia mỗi người 01 cái thành tài sản riêng.

Không biết, việc chia tài sản là nhà đất thì có bắt buộc phải công chứng, chứng thực hay không? Sau khi chia như vậy, tiền cho thuê thu được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân từ các căn nhà của riêng mỗi người là tài sản riêng hay vẫn là tài sản chung?

Trả lời

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định của pháp luật; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật”.

Thêm nữa, theo khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

“a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã”.

Đồng nghĩa, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận phân chia tài sản chung, bao gồm quyền sử dụng đất chung. Về nguyên tắc, thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, quyền sử dụng đất là tài sản bắt buộc phải đăng ký, có giá trị lớn và dễ phát sinh tranh chấp trong quá trình sử dụng, định đoạt, giao dịch. Cho nên theo chúng tôi, mặc dù pháp luật về hôn nhân và gia đình và pháp luật về đất đai không quy định bắt buộc, các bên cũng nên thỏa thuận thực hiện thủ tục công chứng hoặc chứng thực.

Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

Vì không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do hai người thỏa thuận và được ghi trong văn bản. Nếu văn bản thỏa thuận không xác định thời điểm có hiệu lực, thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản văn bản thỏa thuận.

Theo khoản 1 Điều 41 của Luật này, “trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng”.

Có nghĩa là, ngay sau thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên (trong trường hợp bạn hỏi là tiền cho thuê nhà) là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp hai người có thỏa thuận khác.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận