📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Trợ cấp thôi việc khi hợp đồng lao động hết hiệu lực

Hết tháng này hợp đồng lao động của tôi với Công ty sẽ hết hạn. Vì ảnh hưởng của dịch COVID-19, nên chắc chắn Công ty không gia hạn hay ký hợp đồng mới với tôi.

Xin hỏi, trong trường hợp này, tôi có được Công ty chi trả trợ cấp thôi việc hay không? Nếu được thì số tiền trợ cấp là bao nhiêu?

Trả lời

Về nguyên tắc, trợ cấp thôi việc là khoản tiền mà người sử dụng lao động phải chi trả cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp và theo những điều kiện do pháp luật quy định.

Theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao đông năm 2012, “khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 10 Điều của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương”.

Cụ thể, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp sau:

- Hết hạn hợp đồng lao động (trừ trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ).

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

- Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

- Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Hợp đồng lao động giữa bạn và Công ty có thời hạn 02 năm, khi chấm dứt hợp đồng do hết hạn vào cuối tháng này, Công ty có nghĩa vụ chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn.

Cũng cần lưu ý về thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015, được sửa đổi tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 14/10/2018 của Chính phủ. Đó là: “Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (nếu có). Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ hàng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 111, Điều 112, Điều 115 và khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ việc để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 129 của Bộ luật lao động.

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời gian được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động, bảo hiểm thất nghiệp;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng); trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.”

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của bạn là tổng thời gian bạn đã làm việc thực tế cho Công ty trừ đi thời gian bạn đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc bạn đã được Công ty chi trả trợ cấp thôi việc trước đó (nếu có).

Ví dụ, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của bạn là 02 năm, mỗi năm làm việc bạn được Công ty trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Theo khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012, “tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Tiền trợ cấp thôi việc trong trường hợp của bạn được tính bằng một tháng lương bình quân của 6 tháng lương liền kề theo hợp đồng lao động với Công ty trước khi bạn thôi việc.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận