Trách nhiệm pháp lý khi lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội
Sau khi vợ em sinh con, vợ em đã chuẩn bị hồ sơ có liên quan để nộp cho Công ty để được hưởng chế độ thai sản. Sau một thời gian chưa được giải quyết, vợ em có hỏi thì được biết hồ sơ bị trả lại vì...
Xin hỏi các anh chị, người lao động hay người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ hưởng chế độ thai sản? Trường hợp việc sai lệch không do lỗi của người lao động thì người sử dụng lao động có bị xử lý vi phạm hành chính hay không?
Trả lời
Theo khoản 2 Điều 40 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ, “người sử dụng lao động có hành vi làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp làm giả, làm sai lệch nội dung nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng” bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Lưu ý, khoản 1 Điều 6 của Nghị định này quy định: “Trách nhiệm pháp lý khi lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội
Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại… Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”. Cho nên, Công ty thực hiện hành vi vi phạm nêu trên bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, người sử dụng lao động còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 40 Nghị định này là “buộc nộp lại cho cơ quan bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội, số tiền trợ cấp thất nghiệp, số tiền hỗ trợ học nghề, số tiền hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều này”.
Về trách nhiệm lập hồ sơ bảo hiểm xã hội, bao gồm cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, Điều 19, Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định như sau:
- Khoản 1 Điều 19: Người lao động có trách nhiệm “Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội”.
- Khoản 1 Điều 21: Người sử dụng lao động có trách nhiệm “Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội”.
Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp như lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản; lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.
Theo khoản 1 Điều 101 của Luật này, hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con bao gồm:
“a) Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con;
b) Bản sao giấy chứng tử của con trong trường hợp con chết, bản sao giấy chứng tử của mẹ trong trường hợp sau khi sinh con mà mẹ chết;
c) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;
d) Trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh;
đ) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật này”.
Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc, người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ cho người sử dụng lao động.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, theo khoản 2 Điều 102 của Luật này, “người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Luật này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội”.
Người sử dụng lao động có hành vi làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị xử phạt số tiền như trên, tùy theo đó là cá nhân hay tổ chức.
Nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Điều 214 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các Điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;
b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Thu Lý
Vũ Thị Thanh Tú