📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Trách nhiệm liên đới khi giao xe máy cho người không đủ điều kiện điều khiển gây tai nạn?

Hai ngày trước, hai chú cháu tôi đi ăn đám cưới người thân ở trên Phú Thọ. Trên đường về tôi có giao xe máy của tôi cho cháu tôi điều khiển (cháu tôi 20 tuổi), tôi ngồi sau xe. Khi về tới địa bàn...

Hai ngày trước, hai chú cháu tôi đi ăn đám cưới người thân ở trên Phú Thọ. Trên đường về tôi có giao xe máy của tôi cho cháu tôi điều khiển (cháu tôi 20 tuổi), tôi ngồi sau xe. Khi về tới địa bàn Hà Nội, cháu tôi chuyển hướng rẽ đột ngột về phía tay phải không xi nhan báo rẽ nên đã gây tai nạn cho một bác đi xe đạp cùng chiều, hậu quả làm bác này bị chấn thương sọ não phải đưa vào bệnh viện điều trị. Tại thời điểm gây tai nạn, cháu tôi chưa có giấy phép lái xe. Xin hỏi cháu tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không và bị truy cứu về tội gì? Tôi là người ngồi sau có trách nhiệm gì liên đới không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ quy định điều kiện của người lái xe tham gia giao thông như sau: “1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.”

Tại Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định chuyển hướng xe như sau:

“1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

3. Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe.

4. Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ, đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất.”

Như vậy, hành vi điều khiển xe máy (không có giấy phép lái xe) chuyển hướng rẽ đột ngột mà không tín hiệu báo rẽ của cháu bạn đã vi phạm quy định về điều kiện của người lái xe tham gia giao thông và quy định về chuyển hướng xe được quy định tại Luật Giao thông đường bộ nêu trên. Với hành vi vi phạm này mà còn gây tai nạn làm chấn thương sọ não cho người đi xe đạp cùng chiều cộng với việc cháu bạn điều khiển phương tiện xe máy mà không có giấy phép lái xe thì cháu bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cụ thể như sau:

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Ngoài bị truy cứu trách nhiệm về hình sự thì cháu bạn còn phải bồi thường theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

“1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Về trách nhiệm của người ngồi đằng sau xe: Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định “Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” như sau:

“1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, với việc bạn là chủ phương tiện mà giao xe cho người không có giấy phép lái xe điều khiển gây tai nạn giao thông thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại 205 của Bộ luật hình sự nêu trên.

Ngoài ra, bạn còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 30 Nghị định 46/2016 NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:

“4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng).”.

Admin Admin Admin

Luật Sư Việt Nam

Bình luận