Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác
Giám đốc Công ty nơi chúng em làm việc yêu cầu nhân viên phải cung cấp email cá nhân và mật khẩu để phục vụ việc kiểm tra nội vụ, kiểm soát tiến trình xử lý công việc qua thư điện tử cũng như phòng...
Trên thực tế, email của chúng em thường xuyên bị bộ phận hành chính, thậm chí giám đốc đăng nhập, đọc và thậm chí tự gửi email bất cứ khi nào họ muốn.
Xin hỏi các anh chị, trường hợp nào hành vi nói trên có thể bị xử lý hình sự?
Trả lời
Khoản 2 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.
Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.
Tiếp theo, khoản 3 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định”.
Có thể thấy, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác là quyền hiến định, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.
Hành vi đọc trộm tin nhắn nói riêng cũng như đọc trộm các dạng thư từ, thông tin khác như email,… của người khác là một trong những hành vi xâm phạm quyền bí mật đời từ và vi phạm pháp luật.
Theo khoản 3 Điều 12 Luật Viễn thông năm 2009, “Thu trộm, nghe trộm, xem trộm thông tin trên mạng viễn thông; trộm cắp, sử dụng trái phép tài nguyên viễn thông, mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác” là các hành vi bị nghiêm cấm.
Tuy nhiên, việc đọc trộm tin nhắn, thư từ, email của người khác vẫn diễn ra hằng ngày và rất phổ biến. Chỉ có điều, không nhiều người biết hành vi này có thể sẽ bị xử lý hình sự.
Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;
đ) Làm nạn nhân tự sát.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Tóm lại, người nào thực hiện một trong các hành vi xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, điện tín,… nêu trên mà đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà lại tiếp tục vi phạm thì có thể bị xử lý hình sự với mức phạt tù đến 03 năm. Nếu là người có chức vụ còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm,
Thu Hường
Vũ Thị Thanh Tú