Tôi có được đổi tên không khi tên hai vợ chồng là “Nghĩa Trang”?
Tôi tên là Nghĩa, vợ tôi tên là Trang, thường mọi người hay gọi ghép thành “Nghĩa Trang”. Kể từ khi chúng tôi lấy nhau tên của hai vợ chồng tôi luôn là chủ đề để nhiều người nơi tôi cư trú đàm...
Tôi tên là Nghĩa, vợ tôi tên là Trang, thường mọi người hay gọi ghép thành “Nghĩa Trang”. Kể từ khi chúng tôi lấy nhau tên của hai vợ chồng tôi luôn là chủ đề để nhiều người nơi tôi cư trú đàm tiếu, trêu chọc gây ảnh hưởng đến suy nghĩ, tâm lý, danh dự của vợ chồng tôi và tình cảm của mọi người trong gia đình. Xin hỏi tôi muốn thay đổi tên có được không? Nếu được thì tôi đến đâu để được giải quyết? Hồ sơ gồm những giấy tờ gì?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;
b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;
c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;
d) Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
đ) Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi;
e) Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính;
g) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.”
Mặt khác, khoản 1 Điều 26 Luật Hộ tịch quy định về phạm vi thay đổi hộ tịch như sau: “1. Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự”
Như vậy, theo anh trình bày thì việc sử dụng tên “Nghĩa Trang” của hai vợ chồng anh là lý do để mọi người nơi anh cư trú đàm tiếu, trêu chọc gây ảnh hưởng đến suy nghĩ, tâm lý, danh dự, tình cảm của vợ chồng anh chị và tình cảm của mọi người trong gia đình do vậy, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 nêu trên thì trường hợp của anh là có cơ sở để được xem xét giải quyết thay đổi tên.
Về cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục đăng ký thay đổi tên: Theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Luật Hộ tịch thì: “3. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.”
Như vậy, anh có thể lựa chọn cơ quan giải quyết thủ tục đăng ký thay đổi tên cho bản thân là UBND cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch (khai sinh) trước đây hoặc UBND cấp huyện nơi cư trú của anh hiện nay.
Về hồ sơ đăng ký thay đổi tên được quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Hộ tịch, theo đó bao gồm các giấy tờ sau:
Các giấy tờ phải nộp:
- Tờ khai (theo mẫu quy định);
- Các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi tên ( Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn của anh chị; xác nhận của những người xung quanh về việc sử dụng tên này có ảnh hưởng đến suy nghĩ, tâm lý, danh dự của hai vợ chồng và tình cảm của mọi người trong gia đình, việc xác nhận này phải được UBND cấp xã chứng thực chữ ký.)
Các giấy tờ xuất trình:
- Bản chính Giấy khai sinh của anh;
- Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc Thẻ căn cước công dân và sổ hộ khẩu của người đi đăng ký.
Admin PBGDPL