📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Thủ tục kết hôn, nhận con và đăng ký khai sinh cho con giữa người Việt Nam định cư tại Úc với công dân trong nước

Tôi là người Việt Nam đang định cư tại Úc. Cuối năm 2017 tôi về nước thăm gia đình và có quen rồi yêu cô H, sau đó H có thai với tôi. Đến cuối năm 2018 H sinh con gái. Nay tôi về nước để làm thủ...

Tôi nghe nói để làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì ngoài Công hàm không cản trở kết hôn do Đại sứ quán Úc tại Hà Nội cấp, tôi còn phải có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Úc cấp có đúng không? Hiện con chúng tôi đã hơn 01 tuổi và chúng tôi cũng chưa đi đăng ký khai sinh cho cháu. Chúng tôi dự định sau khi đăng ký kết hôn xong thì sẽ làm thủ tục nhận con và đăng ký khai sinh cho con. Xin hỏi tôi có phải xác nhận ADN khi làm thủ tục nhận con không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

Về điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam được quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.

Như vậy, để được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì các bạn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định nêu trên.

Về thẩm quyền đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Hộ tịch theo đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

Về thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 38 Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:

“1. Hai bên nam, nữ nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch có trách nhiệm xác minh, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.

3. Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân, công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.”

Tại Điều 30 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch hướng dẫn về hồ sơ đăng ký kết hôn như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký kết hôn được lập theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch và quy định sau đây:

a) Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn;

b) Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.

Nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch chỉ có giá trị 6 tháng, kể từ ngày cấp.

2. Trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú.

3. Ngoài giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này, nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 của Nghị định này; nếu là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó.”

Mặt khác, theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì phía công dân Việt Nam còn phải nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân; hộ khẩu để chứng minh nơi cư trú. Đối với người nước ngoài, các giấy tờ bằng tiếng nước ngoài sử dụng để đăng ký kết hôn tại Việt Nam phải được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch ra tiếng Việt và công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật.

Về nội dung bạn hỏi ngoài Công hàm không cản trở kết hôn do Đại sứ quán Úc tại Hà Nội cấp, bạn có cần phải xin Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Úc không. Vấn đề này, được hướng dẫn tại Mục 8 Công văn số 1146/HTQTCT-HT ngày 09/8/2016 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực như sau: “Về yêu cầu bổ sung giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Theo quy định của Điểu 30 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, trong hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài chỉ yêu cầu có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp xác nhận hiện tại không có vợ hoặc không có chồng, do đó, nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thể hiện được nội dung xác nhận này thì cơ quan đăng ký hộ tịch không được yêu cầu người đó phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân nào khác, kể cả giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong thời gian trước đây cư trú tại Việt Nam. Trường hợp có nghi ngờ về tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam trong thời gian cư trú ở trong nước, cơ quan đăng ký hộ tịch cần chủ động liên hệ UBND cấp xã, nơi người đó cư trú để xác minh làm rõ”. Như vậy, căn cứ hướng dẫn trên thì nếu Công hàm không cản trở kết hôn do Đại sứ quán Úc tại Hà Nội cấp thể hiện rõ hiện tại bạn không có vợ thì bạn không cần phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Úc cấp.

Đối với thủ tục nhận con và xác nhận ADN khi làm thủ tục nhận con. Tại điểm a Khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.”

Tại Khoản 3 Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch hướng dẫn về trường hợp đăng ký khai sinh cho con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn như sau:

“3. Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, chưa được đăng ký khai sinh mà khi đăng ký khai sinh, vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì thông tin về người cha được ghi ngay vào Giấy khai sinh của người con mà không phải làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cung cấp thông tin về người mẹ tại khoản 1 Điều này, lập văn bản thừa nhận con chung tại khoản 2, khoản 3 Điều này không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định các thông tin cung cấp cho cơ quan đăng ký hộ tịch không đúng sự thật.”

Như vậy, theo quy định trên, trường hợp bạn đã làm xong đăng ký kết hôn, khi bạn làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con, vợ chồng bạn không cần phải làm thủ tục đăng ký nhận cha con (đồng nghĩa với việc bạn không phải làm xét nghiệm ADN), các bạn chỉ phải nộp thêm văn bản thừa nhận cháu bé là con chung của cả 2 vợ chồng.

Nguyễn Tuân

Nguyễn Sỹ Tuấn

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận