📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Luật Đất Đai

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai cấp xã

Tranh chấp đất đai hiện nay diễn ra khá phổ biến, có rất nhiều khách hàng thắc mắc về hòa giải tranh chấp đất đai như thế nào?

Hòa giải tranh chấp đất đai cấp xã là thủ tục bắt buộc đầu tiên khi phát sinh tranh chấp giữa những người sử dụng đất mà các bên không tự thỏa thuận được. Bài viết tổng hợp quy định về hòa giải tranh chấp đất đai cấp xã theo pháp luật đất đai, giúp người dân nắm rõ trình tự và hồ sơ cần chuẩn bị.

Quy định chung về hòa giải tranh chấp đất đai cấp xã

Điều 202 Luật Đất đai 2013 quy định trình tự hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã như sau:

  • Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp tự hòa giải hoặc giải quyết thông qua hòa giải ở cơ sở.
  • Tranh chấp mà các bên không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để hòa giải.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức hòa giải, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên. Thủ tục hòa giải được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
  • Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản được gửi đến các bên và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
  • Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản đến Phòng Tài nguyên và Môi trường (đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư) hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường (đối với các trường hợp khác) để trình công nhận thay đổi ranh giới và cấp mới Giấy chứng nhận.

Trình tự hòa giải tranh chấp đất đai cấp xã

Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 57 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP, quy định chi tiết trình tự hòa giải như sau:

Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ và công việc của Ủy ban nhân dân cấp xã

Khi nhận được đơn yêu cầu, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:

  • Thẩm tra, xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu về nguồn gốc, quá trình và hiện trạng sử dụng đất do các bên cung cấp.
  • Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã; tổ trưởng tổ dân phố (khu vực đô thị) hoặc trưởng thôn, ấp (khu vực nông thôn); đại diện một số hộ dân sinh sống lâu đời biết rõ nguồn gốc thửa đất; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp. Tùy trường hợp có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên.
  • Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc hòa giải chỉ tiến hành khi các bên đều có mặt; nếu một bên vắng mặt đến lần thứ hai thì coi là hòa giải không thành.

Bước 2: Lập biên bản hòa giải

Kết quả hòa giải phải được lập thành biên bản, gồm: thời gian, địa điểm hòa giải; thành phần tham dự; tóm tắt nội dung tranh chấp (nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, nguyên nhân phát sinh); ý kiến của Hội đồng hòa giải; những nội dung các bên đã và chưa thỏa thuận. Biên bản phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt, các thành viên tham gia và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; gửi ngay cho các bên và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Bước 3: Xử lý khi có ý kiến khác với biên bản hòa giải thành

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, nếu các bên có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét ý kiến bổ sung và lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.

Bước 4: Giải quyết khi hòa giải không thành

Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng ranh giới sử dụng đất, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo khoản 5 Điều 202 Luật Đất đai. Trường hợp hòa giải không thành, hoặc sau khi hòa giải thành mà ít nhất một bên thay đổi ý kiến, Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Xem thêm các chủ đề khác

Luật Sư Việt Nam

Bình luận