📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Thỏa thuận trả lương trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ cho người nước ngoài

Công ty nơi tôi làm việc vừa thuê một người nước ngoài làm giám đốc điều hành. Không biết, Công ty có thể thỏa thuận và trả lương cho người này bằng ngoại tệ hay không? Việc sử dụng tiền lương nhận...

Trả lời

Theo điểm b, điểm h khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013, đối tượng được xác định là người cư trú có:

- Điểm b khoản 1: “Tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (sau đây gọi là tổ chức kinh tế)”.

- Điểm h khoản 1: “Người nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam với thời hạn từ 12 tháng trở lên. Đối với người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch hoặc làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam không kể thời hạn là những trường hợp không thuộc đối tượng người cư trú”.

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách quản lý ngoại hối nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ngoại hối, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế; thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam; thực hiện mục tiêu trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam; thực hiện các cam kết của nước ta trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam.

Một trong các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, theo khoản 14 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-NHNN ngày 04/04/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là “Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó”.

Do vậy, Công ty nơi bạn làm việc thuê giám đốc là người nước ngoài có quyền thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính Công ty là đúng quy định của pháp luật.

Sử dụng ngoại tệ tiền mặt của cá nhân (trong đó có người nước ngoài theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 4 nêu trên) được quy định tại Điều 24 của Luật này. Đó là:

“1. Người cư trú, người không cư trú là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, bán cho tổ chức tín dụng được phép và sử dụng cho các mục đích hợp pháp khác.

2. Người cư trú là công dân Việt Nam được sử dụng ngoại tệ tiền mặt để gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng được phép, được rút tiền gốc và nhận tiền lãi bằng ngoại tệ tiền mặt”.

Bên cạnh đó, theo Điều 9 của Luật này, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013, việc mang ngoại tệ, đồng Việt Nam và vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh; xuất khẩu, nhập khẩu ngoại tệ được quy định như sau:

“1. Người cư trú, người không cư trú là cá nhân khi nhập cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt và vàng trên mức quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải khai báo hải quan cửa khẩu.

2. Người cư trú, người không cư trú là cá nhân khi xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt và vàng trên mức quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải khai báo hải quan cửa khẩu và xuất trình giấy tờ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

3. Người cư trú là tổ chức tín dụng được phép thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu ngoại tệ tiền mặt sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận bằng văn bản. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ngoại tệ tiền mặt của tổ chức tín dụng được phép”.

Là người nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam với thời hạn từ 12 tháng trở lên, giám đốc nơi bạn làm việc có quyền cất giữ, mang theo người, bán ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được phép và sử dụng cho các mục đích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Khi xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt trên mức quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, người này phải khai báo hải quan cửa khẩu và xuất trình giấy tờ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Về định mức, theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 15/2011/TT-NHNN ngày 12/8/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức quy định dưới đây phải khai báo Hải quan cửa khẩu:

“a) 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương;

b) 15.000.000 VNĐ (Mười lăm triệu đồng Việt Nam)”.

Khi xuất cảnh theo ngoại tệ tiền mặt trên mức 5.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương, giám đốc của bạn cần xuất trình cho Hải quan cửa khẩu giấy tờ theo quy định tại Điều 3 Thông tư này:

“a) Giấy xác nhận mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài (sau đây gọi là Giấy xác nhận) do tổ chức tín dụng được phép cấp phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối; hoặc

b) Văn bản chấp thuận cho cá nhân mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp”.

Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm quy định cụ thể các loại giấy tờ cần thiết chứng minh cho mục đích, số lượng ngoại tệ tiền mặt, quy trình xem xét, kiểm tra chứng từ và cấp Giấy xác nhận cho cá nhân; căn cứ quy định của pháp luật và nhu cầu thực tế, hợp lý của từng mục đích để cấp Giấy xác nhận đối với số ngoại tệ tiền mặt mang ra nước ngoài của cá nhân hoặc có văn bản trả lời trong trường hợp không cấp Giấy xác nhận trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị kèm theo hồ sơ hợp lệ.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận