📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Thỏa thuận phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại

Khi hai bên ký hợp đồng với nhau, có nhất thiết phải thỏa thuận phạt vi phạm thì khi bên vi phạm gây thiệt hại mới phải bồi thường hay không?

Trả lời

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Theo khoản 2 Điều 398 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:

“a) Đối tượng của hợp đồng;

b) Số lượng, chất lượng;

c) Giá, phương thức thanh toán;

d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;

e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

g) Phương thức giải quyết tranh chấp”.

Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng theo quy định của pháp luật.

Về thỏa thuận phạt vi phạm, Điều 418 của Bộ luật này quy định:

“1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”.

Như vậy, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, ghi nhận vào hợp đồng dân sự. Cũng cần lưu ý, trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác, ví dụ giới hạn mức trần tối đa phạt vi phạm hợp đồng thì các bên chỉ được thỏa thuận trong giới hạn đó.

Về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng, Điều 419 của Bộ luật này quy định:

“1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.

2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.

Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Điều 361 của Bộ luật này quy định thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ như sau:

“1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.

2. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”.

Như vậy, các bên có thể thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng. khi vi phạm xảy ra, bên vi phạm có nghĩa vụ thanh toán tiền phạt cho bên bị vi phạm. Còn thiệt hại phát sinh do vi phạm quyền dân sự hoặc vi phạm nghĩa vụ, bên vi phạm có nghĩa vụ bồi thường theo quy định nêu trên.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Luật Sư Việt Nam

Bình luận