📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Số giờ làm việc bình thường và làm thêm tối đa của người lao động

Sau khi tốt nghiệp đại học, em tiếp tục học thêm một số chứng chỉ nữa. Chính vì vậy, khi dự tuyển vào làm việc tại Công ty, em có đề nghị ký hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng, mỗi tháng em đi làm...

Xin hỏi các anh chị, nội dung hợp đồng lao động như trên có bị trái quy định của pháp luật hay không?

Trả lời

Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”.

Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động được quy định tại Điều 15 của Bộ luật này. Đó là:

“1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.

Có 02 loại hợp đồng lao động:

- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn.

Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại nêu trên, được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 20 của Bộ luật này như sau:

“a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng”.

Căn cứ các quy định nêu trên, việc Công ty (với tư cách người sử dụng lao động) và bạn (với tư cách người lao động) ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng, trong đó thỏa thuận thời gian làm việc 20 ngày trong 01 tháng là không trái quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, nếu hai bên thỏa thuận 01 ngày người lao động phải làm việc 14 giờ, không tính làm thêm giờ là trái quy định của pháp luật lao động. Bởi vì, thời giờ làm việc bình thường được quy định tại Điều 105 của Bộ luật này như sau:

“1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan”.

Công ty có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết. Nếu theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường tối đa không được quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

Ngoài thời giờ làm việc bình thường nêu trên, nếu bạn làm việc sẽ được tính là làm thêm giờ theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật này. Cụ thể:

“1. Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

a) Phải được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

c) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:

a) Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;

b) Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;

c) Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;

d) Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;

đ) Trường hợp khác do Chính phủ quy định.

4. Khi tổ chức làm thêm giờ theo quy định tại khoản 3 Điều này, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Tóm lại, mặc dù có sự đồng ý của bạn (với tư cách là người lao động), nhưng Công ty (với tư cách người sử dụng lao động) phải bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày. Nếu Công ty áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần, thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm tối đa không được quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng.

Nói cách khác, cho dù được tính làm thêm giờ, việc hai bên thỏa thuận bạn làm việc cho Công ty 14 giờ trong 01 ngày là trái quy định của pháp luật lao động.

Thu Hường

Vũ Thị Thanh Tú

Xem thêm

Luật Sư Việt Nam

Bình luận