Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trong Hiến pháp và pháp luật nước ta như thế nào?
Bác Lê T trú tại xã X, huyện B mới được bầu làm trưởng thôn M. Qua các phương tiện thông tin đại chúng bác được biết: Thời gian qua, một số đối tượng có lời nói, bài viết xuyên tạc về quyền tự do...
Để tìm hiểu và tuyên truyền, vận động người dân nơi địa bàn cư trú, bác T đề nghị cho biết về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trong Hiến pháp và pháp luật nước ta như thế nào?
Trả lời: Tiếp tục kế thừa và phát triển những quy định của các bản Hiến pháp trước đây về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 đã có những đổi mới quan trọng đặc biệt liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể:
- Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật".
- Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định "1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.; 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật".
Để cụ thể hóa nguyên tắc hiến định này, ngày 18/11/2016, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội biểu quyết thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Luật tín ngưỡng, tôn giáo là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Luật có nhiều điểm mới, tiến bộ thể hiện rõ nét và đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo…. hợp với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Một trong những nội dung cơ bản trong Luật và thể hiện rõ nét quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quy định về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Cụ thể:
- Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định các chủ thể được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:
“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.
3. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
4. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.
5. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.”
Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi.
- Điều 7 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định mang tính nguyên tắc về các quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc như:
“1. Hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự (sau đây gọi chung là hiến chương) của tổ chức tôn giáo.
2. Tổ chức sinh hoạt tôn giáo.
3. Xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tôn giáo.
4. Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo.
5. Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo.
6. Nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho.
7. Các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
- Điều 8 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam như sau:
“1. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền:
a) Sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo;
b) Sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung;
c) Mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo;
d) Vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam;
đ) Mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam.
3. Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam”.
Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định các quyền cơ bản cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Đồng thời, Luật cũng xác định cụ thể nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện các hoạt động liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.
- Điều 9 Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau:
“1. Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật”.
Như vậy, trên đây là những quy định mang tính nguyên tắc về quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam; bên cạnh quyền thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các quyền và nghĩa vụ cụ thể trong từng lĩnh vực, từng hoạt động được Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản pháp luật liên quan quy định chi tiết để triển khai thực hiện. Bác T là Trưởng thôn, bám sát nội dung trên để thông tin, tuyên truyền cho bà con nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ về quyền tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta.
Đỗ Như Quỳnh
Đỗ Như Quỳnh