📞 Hotline: 0989919161✉️ Email: [email protected]
Giải đáp pháp luật

Quyền định đoạt để thừa kế phần tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng

Em được biết, tài sản của vợ chồng, ví dụ như nhà đất thuộc sở hữu chung của cả hai người và khi định đoạt bắt buộc phải có sự đồng ý của cả hai.

Vậy nếu ông nội em muốn để lại di chúc cho người khác phần tài sản của ông trong tài sản chung của ông bà thì có bắt buộc phải được sự đồng ý của bà hay không?

Trả lời

Đúng như bạn nêu, về nguyên tắc việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận của vợ chồng, thậm chí đối với nhà đất, thỏa thuận này phải được lập thành văn bản. Bởi vì, Điều 35 Luật Nhà ở năm 2014 quy định:

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”.

Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản. Theo Điều 194 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”.

Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

Chính vì vậy, việc định đoạt bằng cách “để thừa kế” là quyền của vợ, chồng đối với phần tài sản của mình trong tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất được phân chia.

Theo Điều 609 Bộ luật này, “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Di chúc, Theo Điều 624 của Bộ luật này, “là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Người thành niên có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình nếu có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này. Đó là: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép”. Thêm nữa, di chúc hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Điều 626 Bộ luật này quy định người lập di chúc có quyền sau đây:

“1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản”.

Tóm lại, mặc dù căn nhà là sở hữu chung của ông bà, nếu định đoạt bằng các hình thức khác ngoài để lại thừa kế, ông nội bạn cần có sự đồng ý của bà nội bạn. Trường hợp để lại thừa kế thông qua việc lập di chúc, về nguyên tắc ông không cần có sự đồng ý của bà.

Chỉ khi di chúc ông lập không hợp pháp và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật, phần di sản của ông đối với tài sản chung sẽ được phân chia theo luật.

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Theo khoản 1 Điều 651 của Bộ luật này, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thu Hương

Vũ Thị Thanh Tú

Luật Sư Việt Nam

Bình luận