Quy định về xe phải đăng ký tạm thời nếu có nhu cầu tham gia giao thông
Trên thực tế khi giao dịch mua bán ô tô, xe máy mới, tại thời điểm nhận xe, cửa hàng thường dán vào vị trí gắn biển số tờ giấy ghi “Xe đi đăng ký”.
Xin hỏi: Người mua xe (lắp ráp trong nước) có thể cho xe tham gia giao thông với tình trạng như trên cho đến khi được cấp Giấy đăng ký xe hay không?
Trả lời
Theo khoản 3 Điều 53 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, “xe cơ giới phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp”.
Về nguyên tắc, xe cơ giới có nguồn gốc hợp pháp, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký và biển số.
Thêm nữa, khoản 2 Điều 58 của Luật này quy định người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:
“a) Đăng ký xe;
b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này;
c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;
d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới”.
Căn cứ quy định nêu trên, để tham gia giao thông, xe cơ giới phải được đăng ký và gắn biển số theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp bạn nêu, khi nhận xe mới từ người bán chưa có đăng ký và biển số, nếu muốn tham gia giao thông, xe phải được đăng ký tạm thời. Bởi vì, theo Điều 12 Thông tư số 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an, “Xe chưa được đăng ký, cấp biển số chính thức có nhu cầu tham gia giao thông; xe đăng ký ở nước ngoài được cơ quan thẩm quyền cho phép vào Việt Nam du lịch, phục vụ hội nghị, hội chợ, triển lãm, thể dục, thể thao; xe phục vụ hội nghị do Đảng, Nhà nước, Chính phủ tổ chức; xe ô tô làm thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe để tái xuất về nước hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam và xe có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng”.
Để đăng ký xe tạm thời đối với xe sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam, hồ sơ bao gồm: Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu); Bản sao hóa đơn bán hàng theo quy định hoặc phiếu xuất kho. Giấy chứng nhận đăng ký xe tạm thời có giá trị thời hạn sử dụng tối đa 30 ngày. Cũng cần lưu ý, theo khoản 3 Điều 14 của Thông tư này, “xe đăng ký tạm thời được phép tham gia giao thông theo thời hạn, tuyến đường và phạm vi hoạt động ghi trong giấy chứng nhận đăng ký xe tạm thời”. Cho nên, sau khi được cấp đăng ký xe tạm thời, chủ sở hữu cần thực hiện thủ tục đăng ký xe chính thức trong thời hạn tối đa 30 ngày để có thể tham gia giao thông như các phương tiện giao thông khác.
Điều đó đồng nghĩa, chưa có đăng ký và gắn biển số, việc dán vào vị trí gắn biển số tờ giấy ghi “Xe đi đăng ký” mà tham gia giao thông là không đúng quy định của pháp luật.
Hành vi này, tùy phương tiện giao thông là ô tô hay xe máy, người vi phạm sẽ bị xử lý như sau:
1. Hành vi điều khiển ô tô, xe máy không có Giấy đăng ký xe:
- Đối với ô tô: Theo điểm a khoản 4 Điều 16 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ, hành vi “điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe theo quy định hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe đã hết hạn sử dụng (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc)” bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung:
+ “Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng” (theo điểm a khoản 6 của Điều này);
+ “Tịch thu phương tiện” trong trường hợp điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, không đúng số khung, số máy của xe hoặc bị tẩy xóa (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pháp, được quy định tại điểm đ khoản 6 của Điều này).
- Đối với xe máy: Theo điểm a khoản 2 Điều 17 của Nghị định này, hành vi điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe theo quy định bị “phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng”.
Ngoài việc bị phạt tiền, theo điểm dd khoản 4 của Điều này, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “tịch thu phương tiện” nếu không có Giấy đăng ký xe hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, không đúng số khung, số máy của xe hoặc bị tẩy xóa mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pháp).
2. Hành vi điều khiển ô tô, xe máy không có biển số:
- Đối với ô tô: Theo điểm b khoản 4 Điều 16 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, hành vi điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe theo quy định hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe đã hết hạn sử dụng (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) bị “phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng”.
Ngoài việc bị phạt tiền, theo điểm đ khoản 4 của Điều này, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng”.
- Đối với xe máy: Theo điểm c khoản 2 Điều 17 của Nghị định này, điều khiển xe không gắn biển số (đối với loại xe có quy định phải gắn biển số); gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp bị “phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng”.
Ngoài việc bị phạt tiền, theo điểm b khoản 4 của Điều này, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “tịch thu Giấy đăng ký xe, biển số không đúng quy định hoặc bị tẩy xóa”.
Tóm lại, nếu có nhu cầu tham gia giao thông trong trường hợp chưa được đăng ký, cấp biển số chính thức, ô tô, xe máy đó phải đăng ký tạm thời. Nếu không, người điều khiển sẽ bị xử phạt như trên theo quy định của pháp luật.
Hùng Phi
Vũ Thị Thanh Tú