Quy định bồi thường tại nạn lao động
Tai nạn lao động là một điều không ai mong muốn, tuy nhiên khi người lao động bị tai nạn lao động thì quyền lợi của người lao động phải
Tai nạn lao động là điều không ai mong muốn, nhưng khi xảy ra thì quyền lợi của người lao động phải được bảo đảm. Bồi thường tai nạn lao động cùng với chế độ trợ cấp là những quyền lợi quan trọng giúp người lao động và gia đình khắc phục hậu quả khi sức khỏe, tính mạng bị ảnh hưởng trong quá trình làm việc.
Tại thời điểm bài viết (năm 2019), trách nhiệm bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động của người sử dụng lao động được quy định tại Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (số 84/2015/QH13), có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi xảy ra tai nạn lao động
Theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bao gồm:
- Kịp thời sơ cứu, cấp cứu và tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu, điều trị cho người lao động.
- Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định: thanh toán phần đồng chi trả và các chi phí ngoài danh mục bảo hiểm y tế đối với người tham gia bảo hiểm y tế; thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người không tham gia bảo hiểm y tế.
- Trả đủ tiền lương cho người lao động phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động.
- Giới thiệu người lao động đi giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng.
- Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa nếu người lao động tiếp tục làm việc.
Mức bồi thường tai nạn lao động
Người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính họ gây ra và cho người bị bệnh nghề nghiệp, với mức:
- Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% thì được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%.
- Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Trợ cấp tai nạn lao động
Trường hợp tai nạn lao động xảy ra do lỗi của chính người lao động, họ vẫn được người sử dụng lao động trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường nêu trên với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng.
Theo Điều 39 của Luật, người lao động bị tai nạn khi thực hiện nhiệm vụ ngoài phạm vi nơi làm việc theo điều hành của người sử dụng lao động, hoặc bị tai nạn trên tuyến đường và thời gian hợp lý đi từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nếu do lỗi của người khác hoặc không xác định được người gây tai nạn, thì vẫn được người sử dụng lao động bồi thường, trợ cấp tương ứng. Việc bồi thường, trợ cấp phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc biên bản điều tra tai nạn lao động.
Tiền lương làm cơ sở tính bồi thường, trợ cấp bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động. Ngoài chế độ từ người sử dụng lao động, người lao động tham gia bảo hiểm còn được hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.



